Ngày 19/6, tôi lại về với Tàu Ô - Xóm Ruộng, vùng đất đã đi vào lịch sử bằng sự kiên cường, bất khuất và những hy sinh đến tận cùng của cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 7 anh hùng.
Buổi sớm phương Nam trong trẻo. Nắng mới trải nhẹ trên những hàng cây xanh mướt. Khó ai có thể hình dung nơi bình yên này từng là chiến địa khốc liệt bậc nhất của chiến trường Đông Nam Bộ. Đứng trước Tượng đài Chiến thắng Tàu Ô - Xóm Ruộng, ký ức như chậm lại.
Hơn nửa thế kỷ trước, trên tuyến Đường 13 chiến lược, các đơn vị của Sư đoàn 7 đã bám trụ suốt 150 ngày đêm, tạo nên một chốt chặn thép khiến đối phương nhiều lần thất bại. Đó là những tháng ngày bom đạn dày đặc, máu và đất hòa làm một. Hơn một nghìn cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng ngã xuống để giữ vững trận địa, góp phần làm nên một trong những chiến công tiêu biểu của quân đội ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Tôi đến đây dự lễ kỷ niệm 60 năm Ngày truyền thống Sư đoàn 7. Trong dòng người trở về nguồn cội hôm nay, lòng tôi không khỏi nhớ đến những vị tướng mà thế hệ chúng tôi luôn kính trọng và ngưỡng mộ. Trung tướng Lê Nam Phong, Trung tướng Nguyễn Văn Thái… là những cái tên gắn liền với những năm tháng chiến đấu oanh liệt của đơn vị. Các ông không chỉ là những người chỉ huy tài năng mà còn là biểu tượng của bản lĩnh, trí tuệ và khí phách của người lính Cụ Hồ.
Sau này, qua nhiều dịp gặp gỡ và tìm hiểu, tôi càng thêm biết và quý trọng những người đã tiếp nối truyền thống vẻ vang của Sư đoàn như các đồng chí Nguyễn Hữu Mão, Nguyễn Năng Nguyễn, Ngô Hồng Lập… Mỗi người một dấu ấn riêng, nhưng tất cả đều góp phần vun đắp nên thương hiệu của một đơn vị anh hùng, giàu truyền thống chiến đấu và chiến thắng.
Ký ức lại đưa tôi trở về ngày khánh thành Tượng đài Chiến thắng Tàu Ô - Xóm Ruộng. Hôm ấy, Trung tướng Lê Nam Phong và Trung tướng Đào Lợi vẫn còn khỏe mạnh. Tôi có mặt từ rất sớm. Giữa không gian trang nghiêm của vùng đất từng thấm đẫm máu xương đồng đội, những người lính năm xưa lặng lẽ nhìn nhau. Không cần nhiều lời. Trong ánh mắt mỗi người đều ánh lên niềm xúc động, tự hào và cả nỗi nhớ những đồng đội đã mãi mãi nằm lại nơi đây.
Với riêng tôi, một niềm an ủi là chiếc lư hương đồng đặt dưới chân tượng đài do chúng tôi thành tâm tiến cúng. Ngày ngày, khói hương vẫn quyện bay trong gió. Ngọn lửa tâm linh ấy như thay những người còn sống sưởi ấm hương hồn những người đã khuất. Những người lính tuổi đôi mươi gửi lại tuổi xuân cho Tổ quốc, gửi lại những ước mơ còn dang dở cho đất nước thanh bình hôm nay.
Sáng nay, đứng lặng trước tượng đài, nhìn những hàng cây đang lớn lên trên chiến địa năm xưa, tôi chợt nghĩ đến Long Khốt, đến Thành cổ Quảng Trị và biết bao địa danh đã trở thành bất tử trong lịch sử dân tộc. Mỗi tấc đất nơi ấy đều thấm đẫm máu đào của những người con đất Việt. Mỗi ngọn cỏ, mỗi làn gió đều như mang theo lời nhắc nhở về trách nhiệm giữ gìn, xây đắp và bảo vệ non sông mà cha anh đã đánh đổi bằng xương máu.
Có lẽ vì thế mà càng thấm thía hơn đôi câu đối đã trở thành sự chiêm nghiệm của nhiều thế hệ: “Thân ngã xuống thành đất đai Tổ quốc, Hồn bay lên hóa linh khí Quốc gia.”.
Tàu Ô - Xóm Ruộng hôm nay không còn tiếng súng. Những hố bom đã phủ xanh màu lá. Những con đường chiến tranh đã trở thành những tuyến giao thông nhộn nhịp của vùng đất đang phát triển. Nhưng nơi đây vẫn là một miền linh khí, một địa chỉ đỏ trong tâm thức bao thế hệ người Việt Nam.
Trong sự bình yên của hiện tại, tôi như vẫn nghe vọng về tiếng bước chân hành quân của những người lính Sư đoàn 7 năm nào. Họ đã đi qua chiến tranh, đi vào lịch sử và đi vào lòng dân tộc. Họ vẫn đang hiện diện trong từng tấc đất quê hương, trong từng thành quả của đất nước hôm nay và trong niềm tin vào tương lai của Tổ quốc.
Tàu Ô- Xóm Ruộng không chỉ là một chiến trường xưa. Đó còn là một miền ký ức, một miền tri ân và một miền linh khí của đất nước.