Tin văn hóa

Nỗi niềm người con Xơ Đăng

Nguyễn Đức Hải 29/07/2026 08:12

Mỗi độ tháng Bảy về, khi những vạt nắng vàng ươm trải dài trên các triền đồi Đắc Tô, miền đại ngàn Tây Nguyên lại chìm trong không gian linh thiêng của mùa tri ân.

Giữa khói trầm lan tỏa tại các nghĩa trang liệt sĩ, lòng A Đôi – người con ưu tú của đồng bào Xơ Đăng – lại cuộn trào những thanh âm thổn thức của ký ức.

Nhìn lại dòng chảy cuộc đời mình, ngỡ như vừa đi qua cả một dặm dài giông bão, từ những năm tháng vượt Trường Sơn đầy thử thách cho đến những chặng đường trọn đời tận tụy vì quê hương. Thế nhưng, giữa bao nhiêu thành quả và trọng trách mà cuộc đời đã trao gửi, sâu thẳm trong tâm can A Đôi vẫn canh cánh một nỗi niềm đau đáu chưa bao giờ nguôi ngoai theo năm tháng: “Ước nguyện mộc mạc đến nhói lòng là có được một tấm hình của người cha kính yêu để đặt lên bàn thờ tiên tổ”.

Trong ký ức mường tượng của A Đôi – chàng trai sinh vào những năm 1960 trong vùng căn cứ kháng chiến xã Đắc Sao, nay thuộc Tu Mơ Rông dưới chân núi Ngọc Linh, tỉnh Kon Tum – hình bóng người cha, liệt sĩ A Lai, hiện lên với dáng cao gầy, ánh mắt sáng quắc và cương nghị.

Giữa những năm tháng kháng chiến chống Mỹ ác liệt nhất, khi núi rừng gầm thét dưới bom đạn cày xới của kẻ thù, A Lai người cán bộ kinh tài - du kích xã Đắc Sao cùng đồng đội vẫn kiên cường bám làng, gùi gạo, gom từng hạt muối để nuôi dưỡng phong trào cách mạng, tiếp tế cho quân giải phóng mặt trận Tây Nguyên (B3) và bộ đội địa phương. Những lời dạy mộc mạc mà ấm áp tình người của cha đã bồi đắp vào tâm hồn thơ trẻ ấy tình yêu đồng bào sâu nặng và ý chí sắt đá.

1785233778286_6001572562901317899_6001572562901317899_c4a35c2de015365066317eabe3c8f962(1).jpg
A Đôi bên trái, thời điểm là Phó Tổng biên tập Báo Kon Tum.

Nhưng chiến tranh vốn vô cùng tàn khốc. Trong một trận càn quét đẫm máu nhằm triệt phá cơ sở cách mạng vào ngày 5 tháng 7 năm 1967, trận chiến đấu diễn ra không cân sức. Liệt sĩ A Lai đã anh dũng hy sinh. Kẻ thù tàn bạo đến mức gom thi thể ba chiến sĩ du kích gồm A Lai, A Nhing (là bác rể lấy chị ruột của mẹ) và A Prat chất chồng lên nhau rồi đặt mìn phía dưới để phi tang thi thể tại lưng chừng núi Ngọc La. Ngày ấy, A Đôi còn quá nhỏ dại.

Địch liên tục mở những trận càn và rải thảm B52, buộc cậu bé theo mẹ và dân làng sơ tán vào tận căn cứ Ta Rang dưới chân núi Ngọc Păng. Để rồi mãi tận sau này, khi nhìn vào Bằng Tổ quốc ghi công, gia đình mới bàng hoàng nghẹn ngào biết cha mình đã vĩnh viễn nằm lại với lòng đất mẹ.

Sau khi cha hy sinh, cán bộ ủy ban kháng chiến đến vận động đưa A Đôi ra miền Bắc học tập để đào tạo nguồn cán bộ lâu dài; cậu bé ngây thơ ngày ấy có lần chạy trốn vào rừng, có lần không kịp nhảy vào ngồi trốn trong gùi, vì sợ xa mẹ.

Tháng 11 năm 1970 đánh dấu bước ngoặt đổi thay trong cuộc đời A Đôi. Đó là cuộc hành trình đi bộ hơn ba tháng trời của chàng trai mười tuổi vượt Trường Sơn đến trạm 5 Quảng Bình mới được đi xe, dưới sự dẫn dắt của đoàn do Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân A Tranh (A Niếc, bố của chị Y Vêng, sau này nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bí thư Tỉnh ủy Kon Tum) làm trưởng đoàn.

Ra đến T64 ở Hà Nội, theo kế hoạch đoàn thiếu sinh quân sẽ sang Trung Quốc học nhưng thay đổi nên đoàn chuyển đến học tại Trường học sinh Miền Nam số 5, Tân Lạc, Hòa Bình.

Năm 1974, trường chuyển về học tại Trường học sinh Miền Nam số 11, Lương Sơn, Hòa Bình do Bác Y Ngông Niếc K Đăm làm hiệu trưởng. Trong suốt những năm tháng đèn sách nơi đất khách, cậu thiếu niên Xơ Đăng luôn nỗ lực vượt qua nỗi nhớ quê hương, nhớ người thân da diết để miệt mài bồi đắp tri thức, nuôi dưỡng hoài bão lớn lao.

1785233778296_6001572562901317899_6001572562901317899_10030f514c711a3b4d72e2bb77327e13(1).jpg
A Đôi bên trái cùng con liệt sĩ A Nhing đi tìm hài cốt của cha.

Đến cuối năm 1975, hòa chung trong ngày vui lớn của non sông thu về một mối, A Đôi được trở về quê hương Kon Tum ruột thịt. Trở về sau 5 năm xa cách miền đất sinh thành, anh bàng hoàng hay tin người mẹ kính yêu đã qua đời từ năm 1972, khiến gia đình nhỏ bỗng chốc chỉ còn lại một mình anh giữa bộn bề những mất mát.

Mang theo ý chí kiên cường và dòng máu quật khởi của đồng bào Xơ Đăng, A Đôi tiếp tục miệt mài bước trên con đường học tập chuyên sâu và công tác đầy tự hào, vốn có năng khiếu đàn, thổi sáo và chất giọng đầy năng lượng của núi rừng đã từng khiến cho bạn bè đam mê nể phục. Từ năm 1982 đến năm 1984, anh theo học tại Nhạc viện Hà Nội.

Trở về từ mái trường nghệ thuật uy tín, từ năm 1984 đến 1989, anh làm giáo viên Trường Văn hoá nghệ thuật Tây Nguyên (trường trực thuộc Bộ Văn hóa) đóng tại Pleiku, tận tụy truyền ngọn lửa đam mê nghệ thuật cho các thế hệ học trò. Nhạy bén với thời cuộc và mang trong mình nhiệt huyết của tuổi trẻ, từ cuối năm 1989 đến 1990, anh chuyển sang làm phóng viên Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh Gia Lai - Kon Tum.

Không dừng lại ở đó, từ tháng 01 năm 1991 đến tháng 01 năm 1995, anh tiếp tục theo học chuyên ngành Đại học Báo chí tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền ở Hà Nội để nâng cao trình độ chuyên môn.

Với bản lĩnh chính trị vững vàng cùng năng lực thực tiễn sắc sảo, ngày 17 tháng 01 năm 1995, anh chính thức nhận nhiệm vụ làm chuyên viên tổng hợp Văn phòng Tỉnh ủy Kon Tum. Tiếp đó, ngày 21 tháng 6 năm 1996, anh được tin tưởng giao trọng trách làm Phó Tổng Biên tập Báo Kon Tum.

1785233778302_6001572562901317899_6001572562901317899_639dc5f749586db651463ea313c329fc.jpg
A Đôi cùng bạn bè thắp hương mộ cha (có nắm đất) nơi khu vực ông chiến đấu và hy sinh tại nghĩa trang liệt sĩ Đắc Tô.

Từ những dấu mốc quan trọng ấy, sự nghiệp của anh tiếp tục vươn xa khi lần lượt đảm nhiệm nhiều vị trí chủ chốt như: Giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Bí thư Huyện ủy Kon Rẫy, Phó ban Thường trực Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông trước khi nghỉ hưu vào năm 2020. Dù ở bất kỳ cương vị nào, anh cũng giữ trọn phẩm chất của người cán bộ tận tụy, hết lòng vì Nhân dân.

Đằng sau những thành tựu sự nghiệp vẻ vang ấy, cuộc đời riêng của anh cũng trải qua không ít thăng trầm. Người em gái ruột thân yêu của anh – cũng chính là người mẹ của cháu Nghích – đã vĩnh viễn ra đi vào năm 2015, để lại người con trai mà vợ chồng anh đón về nuôi nấng như con đẻ, tiếp tục tiếp nối ngọn lửa yêu thương trong gia đình.

Song hành với hành trình công tác và những buồn vui cuộc đời, khát vọng tìm kiếm hài cốt của người cha kính yêu vẫn là chuỗi ngày dài đằng đẵng với biết bao mồ hôi, nước mắt và cả những hy vọng rồi tan vỡ giữa đại ngàn hoang vu. Biết bao lần A Đôi một mình mang ba lô, băng qua những con suối xiết, bám theo trí nhớ mờ nhạt của những nhân chứng sống để lật giở từng tấc đất lạnh lẽo trên đỉnh núi cao.

Sự bất lực tột cùng khi không thể tìm thấy hài cốt của cha, cùng mỗi lần nhìn lên bàn thờ luôn thiếu vắng một di ảnh khói hương, đã khiến “ước mơ có được một tấm hình của người cha” trở nên da diết, cào xé tâm can. Đối với anh, tấm hình ấy không đơn thuần là bức ảnh bằng giấy, mà là hiện thân thiêng liêng duy nhất kéo hình bóng người cha anh dũng từ cõi ký ức mờ sương trở về gần gũi với thực tại. Anh khao khát được một lần nhìn rõ nét mặt cha trên khung ảnh đặt trang trọng, để mỗi khi thắp nén nhang thơm, anh cảm nhận được hơi ấm của cha đang về phù hộ cho con cháu và mang lại sự vẹn tròn cho gia đình.

Mãi cho đến năm 1996, hay tin đội tìm kiếm hài cốt liệt sĩ của huyện Đắc Tô cùng nhân chứng ông A Bló (người ở làng Nong Lăng Lớn, nguyên du kích xã Đắc Sao từng hoạt động cùng cha) và đồng chí A Brai - Phó Trưởng phòng Tài chính - Lao động - Thương binh và X xã hội huyện lên xã Đắc Sao để tìm kiếm, quy tập, A Đôi liền hối hả nhập cuộc.

Trước khi đi, anh cẩn thận ghé nhà người bạn xin mấy cành hoa sứ với hy vọng nếu tìm được vị trí sẽ trồng bên cạnh mộ cha. Sau mấy tiếng đồng hồ đi xe U-oát vượt dốc leo núi, đoàn cũng đến được đỉnh núi Vang Loan. Đã mấy chục năm trôi qua, rừng thiêng nước độc năm xưa giờ đã đổi thay nhiều, nơi trận đánh khốc liệt ngày ấy tìm mãi chỉ còn lại vài mảnh vỏ đạn đã hoen rỉ theo thời gian.

A Đôi cùng thân nhân các gia đình liệt sĩ đến sườn núi nơi cha mình và đồng đội hi sinh; tại đây, anh thành kính trồng những cành hoa sứ mang theo và lấy ba túi đất về Nghĩa trang Liệt sĩ huyện Đắc Tô để lập bia, xây mộ. Trải qua mưa nắng năm tháng, những cây sứ ấy nay đã vươn cao tỏa bóng, cứ mỗi mùa hoa lại nở trắng tinh khôi giữa đại ngàn, tượng trưng cho tấm lòng thanh tao và sự kiên trinh của người du kích năm xưa đã anh dũng ngã xuống cho đất nước hòa bình. Cứ hàng năm đến ngày giỗ trận 5 tháng 7 và Ngày Thương binh - Liệt sĩ 27 tháng 7, A Đôi cùng vợ là Y Hồng Hà lại đến Nghĩa trang Đắc Tô thắp nén hương dâng lên ngôi mộ có nắm đất của cha, để ông được yên nghỉ ấm áp cùng đồng đội.

Hoàn thành nhiệm vụ nghỉ hưu về với cuộc sống đời thường ngày ngày lên rẫy, người con ưu tú dân tộc Xơ Đăng ấy vẫn luôn hoài niệm và tự hào về đấng sinh thành, dẫu cha đã hóa thân vào hồn thiêng sông núi.

Giữa đại ngàn Tây Nguyên gió lộng, cuộc đời của A Đôi là một bản hùng ca đẹp về lòng trung kiên sắt đá của đồng bào dân tộc thiểu số đối với Đảng, với cách mạng. Mỗi bước chân anh đi, mỗi nhiệm vụ anh đảm nhận qua từng mốc son lịch sử của tỉnh Kon Tum đều thấm đượm tinh thần phụng sự hết lòng vì nhân dân, làm rạng danh truyền thống hào hùng của quê hương Đắc Tô và đại ngàn Tây Nguyên bất khuất.

    Nỗi niềm người con Xơ Đăng
    • Mặc định