Tháng Sáu lại về. Hoa phượng đỏ rực những con đường quê Hải Hậu, gợi nhớ một thời tuổi trẻ đầy mơ ước và khát vọng.
Tôi ghé thăm nhà Phương.
Không giống những lần trước để hàn huyên tâm sự, ôn chuyện cũ hay kể cho nhau nghe những vui buồn của tuổi già, lần này tôi đến để thắp một nén hương tiễn biệt người bạn đã gắn bó với tôi suốt hơn nửa thế kỷ. Một người bạn có quá nhiều chữ “đồng”. Đồng niên. Đồng môn. Đồng đội. Đồng chí hướng. Và cùng chung một niềm đam mê, một cách sống.
Nhìn di ảnh anh, ký ức như cuộn phim quay ngược về những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ trước.

Ngày ấy, chúng tôi cùng học Trường cấp II Hải Hậu, rồi sau đó tách thành Trường cấp II Hải Phương. Trường sơ tán ở khu nhà thờ Giáp Nam. Chúng tôi đều là những cậu học trò gầy gò, chân đất, hiền lành và có phần nhút nhát. Những buổi đến trường trong tiếng chuông nhà thờ, những giờ học dưới mái lớp đơn sơ, những ngày chạy tránh bom đạn chiến tranh… tất cả giờ đã thành kỷ niệm xa xôi.
Rồi chúng tôi lớn lên. Năm 1970, cả hai cùng nhập ngũ, cùng vượt Trường Sơn vào Nam đánh giặc.
Những năm tháng chiến tranh khốc liệt ấy đã gắn kết chúng tôi bằng máu và nước mắt. Chúng tôi cùng hành quân dưới những cánh rừng đại ngàn, cùng chia nhau từng ngụm nước, từng nắm cơm vắt. Chúng tôi đã cùng chứng kiến những người đồng đội ngã xuống, cùng tiễn đưa họ về với đất mẹ trong những đêm rừng lặng gió. Chúng tôi đều mang trên mình những vết thương chiến tranh, những dấu tích không bao giờ phai mờ của một thế hệ đã dâng hiến tuổi xuân cho Tổ quốc.
Hòa bình lập lại sau mùa Xuân năm 1975, mỗi người bước vào một trận chiến mới – trận chiến của xây dựng và phát triển đất nước.
Đỗ Ngọc Phương tiếp tục trưởng thành trong quân đội. Anh trở thành Trung đoàn trưởng, rồi Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Ninh – vùng đất địa đầu Đông Bắc của Tổ quốc.
Tôi theo nghiệp báo chí, lần lượt phụ trách Báo Quân khu 7, Ban đại diện Báo Quân đội Nhân dân tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thật thú vị khi nhiều chặng đường của chúng tôi lại song hành với nhau. Khi Phương là Bí thư Thành ủy Hạ Long, tôi là Bí thư Đảng ủy Khối Bộ Văn hóa – Thông tin tại Thành phố Hồ Chí Minh. Khi anh đảm nhiệm cương vị Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy Quảng Ninh, tôi là Tổng Biên tập Báo Sài Gòn Giải Phóng.
Dù ở cương vị nào, Phương vẫn giữ nguyên phẩm chất của người lính Cụ Hồ: quyết đoán, trách nhiệm, sáng tạo và luôn tiên phong mở lối.

Khoảng đầu những năm 2010, tôi có dịp ra Quảng Ninh công tác. Giữa bộn bề công việc của một cán bộ lãnh đạo tỉnh, anh vẫn dành thời gian tiếp tôi trên một con tàu giữa vịnh Hạ Long. Cuộc gặp hôm ấy khiến tôi hiểu thêm vì sao anh được đồng đội, cấp trên và nhân dân quý trọng đến vậy.
Tôi nhớ lời Đại tướng Phạm Văn Trà, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, từng nhận xét về Đỗ Ngọc Phương: “Đó là một người lính Cụ Hồ tiên phong mở lối.”
Quả thật như vậy. Trong thời gian làm Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Ninh, đơn vị do anh phụ trách đã trở thành lá cờ đầu của Quân khu 3 và toàn quân trong phong trào “làm giàu đánh thắng”. Anh luôn tìm tòi cách làm mới, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm.
Nhưng điều khiến tôi kính trọng hơn cả là tấm lòng của anh với quê hương. Dù công tác xa nhà và đảm nhiệm nhiều trọng trách, Phương luôn đau đáu hướng về Hải Hậu. Anh vận động xây dựng Nhà văn hóa xóm 4, xã Hải Bắc – một công trình được đánh giá thuộc hàng tiêu biểu của cả nước. Công trình ấy từng vinh dự đón Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Đại tướng Phạm Văn Trà về thăm.
Không chỉ vậy, nhiều công trình dân sinh, văn hóa tâm linh khác ở quê hương, trong đó có Đền thờ Đức Thánh Trần và nhiều công trình ý nghĩa khác, đều có dấu ấn đóng góp thầm lặng nhưng rất lớn của anh. Phương sống đầy đặn với nghĩa tình.
Anh luôn hết lòng với đồng đội, bạn bè. Tôi không thể quên lần anh tự lái xe đưa vợ chồng tôi đi thăm các di tích lịch sử ở Ninh Bình. Một cán bộ cấp tỉnh bận trăm công nghìn việc nhưng vẫn dành cho bạn bè sự chân thành và chu đáo như thế.
Mới đây thôi, anh còn có mặt trong buổi gặp mặt kỷ niệm 56 năm ngày nhập ngũ vượt Trường Sơn được tổ chức tại gia đình tôi. Hôm ấy, anh vẫn cười nói vui vẻ, vẫn nhiệt tình như thuở nào.
Vậy mà… Gặp tôi, cô giáo Dung – người bạn đời thủy chung của anh – không cầm được nước mắt. Chị kể về buổi sáng định mệnh ngày 3 tháng 6.
Hôm ấy, Phương cùng bạn bè ra tắm biển tại khu vực Nhà thờ đổ Hải Lý. Biển quê hương vẫn bình yên như bao ngày. Không ai ngờ một cơn đột quỵ bất ngờ đã cướp đi cuộc sống của anh ngay trên bãi biển thân thuộc.
Sự ra đi đột ngột ấy khiến tất cả bạn bè, đồng đội và người thân bàng hoàng. Tôi đứng trước bàn thờ anh mà lòng nghẹn lại. Cả cuộc đời anh gắn bó với biển, với vùng đất địa đầu Tổ quốc, với những công trình hướng ra biển và những con người sống nhờ biển. Và rồi anh trở về với biển. Sống vì biển, chết về với biển.
Nhìn vào đôi mắt trong di ảnh, tôi như vẫn thấy người bạn năm nào đang mỉm cười. Đôi mắt của người bạn có nhiều chữ “đồng”, của người lính Cụ Hồ tiên phong mở lối, của người cán bộ tận tụy với dân, với nước, của người luôn sống vì người khác hơn vì chính mình. Đôi mắt ấy cứ theo tôi mãi trên suốt quãng đường trở về. Và tôi hiểu rằng, có những con người tuy đã đi xa nhưng những gì họ để lại sẽ còn sống mãi trong lòng đồng đội, bạn bè và quê hương.
Đỗ Ngọc Phương là một người như thế.