Phong trào thi đua

Lượng hóa đóng góp của hoạt động Tòa án đối với phát triển kinh tế - xã hội: Từ giải quyết tranh chấp đến khai thông nguồn lực

Thúy Ngoan- Thanh Quyền (TAND khu vực 12- Cần Thơ) 13/08/2026 09:44

Một trong những điểm có ý nghĩa đổi mới trong Chỉ thị số 02-CT/ĐU ngày 18/6/2026 của Ban Thường vụ Đảng ủy TANDTC về tăng cường đánh giá hiệu quả hoạt động, nâng cao chất lượng quản trị trong TAND phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình mới là yêu cầu lượng hóa sự đóng góp của hoạt động Tòa án đối với phát triển kinh tế - xã hội.

img_6433.jpeg
Nâng cao chất lượng quản trị TAND phục vụ phát triển kinh tế, xã hội.

Đây là yêu cầu cao hơn đáng kể so với cách đánh giá truyền thống, vốn chủ yếu tập trung vào các chỉ tiêu như số lượng vụ án thụ lý, tỷ lệ giải quyết hoặc thời hạn xét xử.

Thực tế, hoạt động của Tòa án có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến môi trường đầu tư, kinh doanh, việc khai thác và sử dụng nguồn lực, quyền tài sản của người dân, doanh nghiệp cũng như sự ổn định của các quan hệ xã hội.

Một vụ án được giải quyết đúng pháp luật, đúng thời hạn không chỉ chấm dứt một tranh chấp cụ thể mà trong nhiều trường hợp còn có thể đưa đất đai trở lại sử dụng, khơi thông dòng vốn, bảo vệ hoạt động sản xuất, kinh doanh, khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, cá nhân và góp phần củng cố niềm tin vào môi trường pháp lý.

Đối với TAND khu vực 12 - Cần Thơ, yêu cầu này càng có ý nghĩa khi đơn vị thực hiện chức năng tư pháp trên địa bàn 7 xã, phường gồm: phường Long Mỹ, phường Long Bình, phường Long Phú 1, xã Vĩnh Viễn, xã Vĩnh Thuận Đông, xã Xà Phiên và xã Lương Tâm.

Vì vậy, cần từng bước hình thành phương thức đánh giá trong đó kết quả xét xử được đặt trong mối liên hệ với đặc điểm kinh tế - xã hội và nhu cầu khai thác nguồn lực của từng địa bàn.

Không chỉ thống kê “giải quyết bao nhiêu vụ án”, mà phải xác định “giải quyết vụ án đã tạo ra giá trị gì”

Một bản án dân sự, kinh doanh thương mại hoặc hành chính có thể tạo ra những tác động vượt ra ngoài phạm vi quyền và nghĩa vụ của các đương sự.

Chẳng hạn, một tranh chấp về quyền sử dụng đất nếu được giải quyết dứt điểm có thể làm rõ quyền của các bên, chấm dứt tình trạng đất đai bị tranh chấp, từ đó tạo điều kiện để diện tích đất được tiếp tục sử dụng, chuyển nhượng, đầu tư hoặc đưa vào sản xuất theo đúng quy định pháp luật.

img_6450.jpeg
Ảnh minh họa

Tương tự, việc giải quyết một tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng kinh doanh thương mại hoặc tranh chấp về tài sản có thể góp phần xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc nghĩa vụ thanh toán của các bên. Khi quyền tài sản được xác định rõ ràng và bản án có hiệu lực được tổ chức thi hành, nguồn lực đang bị “đóng băng” trong tranh chấp có điều kiện được đưa trở lại lưu thông.

Do đó, bên cạnh chỉ tiêu về số lượng và thời gian giải quyết, TAND khu vực 12 từng bước thống kê những giá trị nguồn lực được giải quyết hoặc khai thông thông qua hoạt động xét xử, trong phạm vi những dữ liệu mà Tòa án có thể xác định một cách khách quan.

Các chỉ số có thể được nghiên cứu theo hướng: Giá trị tài sản được xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc phân chia thông qua bản án, quyết định; Diện tích đất đai được giải quyết dứt điểm tranh chấp, tạo điều kiện tiếp tục khai thác, sử dụng; Giá trị nghĩa vụ tài chính, khoản tiền, tài sản được xác định trong các tranh chấp kinh doanh, thương mại, tín dụng, ngân hàng;

Số lượng doanh nghiệp, hộ kinh doanh hoặc chủ thể sản xuất, kinh doanh được khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp sau khi tranh chấp được giải quyết; Những dự án, công trình, tài sản hoặc nguồn lực đang bị vướng mắc bởi tranh chấp được tháo gỡ trên cơ sở bản án, quyết định của Tòa án,…

Tuy nhiên, những con số này chỉ có ý nghĩa khi được xác định theo phạm vi tác động thực tế của bản án, tránh cách tính cơ học hoặc quy kết cho Tòa án những kết quả thuộc trách nhiệm của cơ quan, tổ chức khác. Tòa án là một mắt xích trong quá trình khai thông nguồn lực; tác động khác còn phụ thuộc vào thi hành án, quản lý Nhà nước, hoạt động của doanh nghiệp và nhiều yếu tố khác.

Đặc biệt quan tâm đến đất đai - nguồn lực có ý nghĩa quan trọng trên địa bàn

Đối với địa bàn 07 xã, phường thuộc phạm vi giải quyết của TAND khu vực 12, đất đai là một lĩnh vực cần được quan tâm khi đánh giá tác động của hoạt động xét xử đối với phát triển kinh tế - xã hội.

Những tranh chấp về quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế, thế chấp, tranh chấp ranh giới, lối đi, nghĩa vụ tài sản liên quan đến đất... nếu kéo dài không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên mà còn có thể làm cho một phần nguồn lực đất đai không được khai thác hiệu quả.

Vì vậy, việc giải quyết nhanh chóng, đúng pháp luật và có chất lượng các tranh chấp đất đai có thể được nhìn nhận ở hai cấp độ.

Ở cấp độ thứ nhất, Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong vụ án cụ thể.

Ở cấp độ thứ hai, việc giải quyết dứt điểm tranh chấp góp phần xác lập sự ổn định pháp lý đối với quyền sử dụng đất, qua đó tạo điều kiện để đất được tiếp tục sử dụng, đầu tư, sản xuất hoặc thực hiện các giao dịch hợp pháp.

Đây chính là một biểu hiện cụ thể của việc “khai thông nguồn lực” mà Chỉ thị số 02-CT/ĐU đặt ra.

Từ một bản án đến việc cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh

Đối với các vụ án kinh doanh thương mại, tín dụng, ngân hàng, đầu tư và các tranh chấp liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, yếu tố thời gian có ý nghĩa đặc biệt. Một tranh chấp kéo dài có thể làm tăng chi phí của doanh nghiệp, làm đình trệ việc sử dụng tài sản, ảnh hưởng đến dòng tiền và làm phát sinh các tranh chấp liên quan.

Ngược lại, việc giải quyết đúng thời hạn, đúng pháp luật và có khả năng thi hành sẽ góp phần tạo dựng môi trường kinh doanh ổn định và có khả năng dự đoán.

Do đó, khi đánh giá hoạt động xét xử trong lĩnh vực này, TAND khu vực 12 quan tâm đồng thời ba yếu tố: chất lượng - thời hạn - tác động sau giải quyết. Từ đó, có thể hình thành một cách tiếp cận mới: mỗi vụ án kinh doanh, thương mại được giải quyết đúng pháp luật là một bước góp phần củng cố tính an toàn và khả năng dự đoán của môi trường kinh doanh.

Phát hiện bất cập pháp luật và kiến nghị hoàn thiện pháp luật cũng là một “sản phẩm” của hoạt động xét xử

Một nội dung quan trọng khác của nhóm tiêu chí này là kết quả phát hiện, kiến nghị sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ những quy định pháp luật không còn phù hợp hoặc có vướng mắc trong thực tiễn thi hành. Đây là giá trị đặc thù mà hoạt động xét xử có thể tạo ra.

Từ thực tiễn giải quyết hàng nghìn vụ việc, Tòa án có điều kiện nhận diện những vấn đề mà việc nghiên cứu pháp luật trên lý thuyết khó có thể phát hiện đầy đủ. Một quy định có thể rõ ràng về mặt câu chữ nhưng khi áp dụng vào những quan hệ xã hội cụ thể lại phát sinh nhiều cách hiểu khác nhau; hoặc có những quan hệ mới xuất hiện trong thực tiễn nhưng pháp luật chưa điều chỉnh đầy đủ.

TAND khu vực 12 quan tâm việc tổng kết thực tiễn xét xử và phát hiện bất cập pháp luật là một sản phẩm công việc cần được ghi nhận.

Hoạt động của Tòa án góp phần phòng ngừa vi phạm

Chỉ thị số 02-CT/ĐU cũng đặt ra yêu cầu đánh giá kết quả kiến nghị phòng ngừa vi phạm pháp luật, tội phạm, tranh chấp và khắc phục kịp thời các nguyên nhân, điều kiện phát sinh vi phạm thông qua hoạt động xét xử.

Từ thực tiễn địa bàn 07 xã, phường, TAND khu vực 12 tổng hợp những dạng tranh chấp hoặc hành vi vi phạm thường xuyên phát sinh để nhận diện nguyên nhân. Nếu nhiều vụ án có cùng nguyên nhân, đó là dấu hiệu cần được nghiên cứu ở cấp độ phòng ngừa.

Ví dụ, nếu một dạng tranh chấp dân sự phát sinh thường xuyên do người dân thực hiện giao dịch không đúng hình thức; nếu nhiều tranh chấp đất đai xuất phát từ việc chuyển nhượng, tặng cho hoặc quản lý đất chưa đầy đủ về giấy tờ; hoặc nếu một nhóm hành vi vi phạm pháp luật có nguyên nhân từ nhận thức pháp luật hạn chế, thì Tòa án có thể thông qua công tác tổng kết, kiến nghị và phối hợp tuyên truyền pháp luật để góp phần hạn chế tranh chấp phát sinh mới.

Mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp phải được xem là tiêu chí về chất lượng phục vụ

Một nội dung quan trọng khác của nhóm tiêu chí là mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp đối với hoạt động của Tòa án, nhất là khả năng tiếp cận công lý, giải quyết vụ việc đúng pháp luật, đúng thời hạn, công khai, minh bạch và thuận tiện.

Đối với TAND khu vực 12, điều này càng có ý nghĩa bởi người dân từ 07 xã, phường có điều kiện tiếp cận Tòa án khác nhau. Việc đánh giá mức độ hài lòng được thực hiện thận trọng, không lấy sự hài lòng làm căn cứ đánh giá đúng - sai của phán quyết. Một bản án đúng pháp luật có thể không đáp ứng mong muốn của một bên đương sự.

Vì vậy, “sự hài lòng” cần tập trung vào chất lượng phục vụ và khả năng tiếp cận công lý, chẳng hạn như sự rõ ràng của thủ tục, khả năng tiếp cận thông tin, thái độ phục vụ, thời gian giải quyết theo quy định, mức độ minh bạch và thuận tiện trong quá trình thực hiện thủ tục. Theo hướng đó, Tòa án có thể tiếp nhận phản hồi của người dân và doanh nghiệp để xác định những khâu hành chính tư pháp cần cải thiện.

Mục tiêu không phải là làm cho mọi đương sự hài lòng với kết quả xét xử, mà là bảo đảm mọi người dân đều có thể tiếp cận Tòa án một cách bình đẳng, được giải quyết vụ việc đúng pháp luật, đúng thời hạn và được cung cấp thông tin một cách công khai, minh bạch trong phạm vi pháp luật cho phép.

Để mỗi bản án trở thành một đóng góp cho sự phát triển

Thực hiện nhóm tiêu chí về đóng góp của hoạt động Tòa án đối với phát triển kinh tế - xã hội đơn vị quan tâmgiải quyết đúng pháp luật, bảo vệ quyền tài sản, bảo đảm tính ổn định và khả năng dự đoán của pháp luật mới là nền tảng để tạo lập môi trường kinh doanh lành mạnh và khai thông nguồn lực.

Mỗi vụ án được giải quyết đúng pháp luật, đúng thời hạn; mỗi tranh chấp đất đai được giải quyết dứt điểm; mỗi quyền tài sản được xác định rõ; mỗi kiến nghị hoàn thiện pháp luật được phát hiện từ thực tiễn; mỗi nguyên nhân tranh chấp được nhận diện để phòng ngừa và mỗi thủ tục được cải tiến để người dân, doanh nghiệp tiếp cận công lý thuận lợi hơn đều là những kết quả cụ thể góp phần thực hiện Chỉ thị số 02-CT/ĐU đặt ra.

    Lượng hóa đóng góp của hoạt động Tòa án đối với phát triển kinh tế - xã hội: Từ giải quyết tranh chấp đến khai thông nguồn lực
    • Mặc định