Có những miền đất đi qua rồi chỉ còn là một dấu chấm trên bản đồ. Nhưng cũng có những miền đất, càng đi xa càng thấy gần, càng nhiều năm tháng càng thấm sâu vào ký ức. Để rồi một ngày chợt nhận ra, mình đã mang một món nợ ân tình với nơi ấy.
Long Khốt là một miền đất như thế. Không biết tự bao giờ, Long Khốt đã trở thành quê hương thứ hai của chúng tôi.
Tháng Bảy này, chúng tôi lại trở về. Mà thật ra, đâu chỉ riêng tháng Bảy. Suốt hơn nửa thế kỷ kể từ ngày đất nước thống nhất, cứ có dịp là những người lính năm xưa lại tìm về Long Khốt, về Vĩnh Hưng, Tuyên Bình, Thái Bình Trung, Thái Trị, Tuyên Nhơn… Có người đi một mình, có người đưa theo con cháu. Chuyến đi nào cũng bắt đầu bằng nén hương dâng đồng đội và kết thúc bằng những cái bắt tay thật chặt với bà con vùng biên.

Có người hỏi:
– Điều gì khiến các anh cứ trở về mãi?
Tôi nghĩ rất lâu rồi chỉ trả lời bằng hai chữ: Đất và Người. Long Khốt nằm nơi phên dậu phía Tây Nam của Tổ quốc. Mảnh đất nằm giữa những dòng kênh chằng chịt, những cánh đồng Đồng Tháp Mười mênh mang và những rừng tràm từng che chở biết bao cán bộ, chiến sĩ trong những năm tháng chiến tranh. Trên bản đồ, Long Khốt chỉ là một địa danh nhỏ. Nhưng trong lịch sử đấu tranh cách mạng và bảo vệ biên cương, nơi đây mang một vị trí đặc biệt.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, địch xây dựng Đồn Long Khốt thành một cứ điểm quân sự kiên cố nhằm kiểm soát hành lang chiến lược nối căn cứ Miền Đông với Đồng Tháp Mười và vùng Tây Nam Bộ. Chúng tin rằng có thể khóa chặt con đường của cách mạng bằng bê tông, dây thép gai và hỏa lực. Nhưng lịch sử chưa bao giờ thuộc về những bức tường bê tông. Lịch sử thuộc về lòng dân.
Suốt những năm tháng khốc liệt ấy, Long Khốt trở thành chiến trường ác liệt. Biết bao trận đánh diễn ra giữa đồng nước, giữa những cánh rừng tràm và trên từng bờ kênh. Hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ đã ngã xuống để giữ vững hành lang chiến lược, để từng chuyến xuồng chở vũ khí, lương thực vẫn âm thầm vượt qua mưa bom bão đạn. Máu của các anh đã hòa vào đất. Đất từ đó mang ký ức của những người lính.

Rồi đất nước thống nhất chưa bao lâu, Long Khốt lại bước vào một cuộc thử lửa mới. Những ngày đầu cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, quân và dân nơi đây lại đứng lên chống quân Pol Pot xâm lấn. Lại có những người lính ngã xuống để giữ từng tấc đất thiêng liêng nơi biên cương.
Vì thế, ở Long Khốt, mỗi nắm đất đều mang trong mình một câu chuyện. Đó không chỉ là đất. Đó là lịch sử. Đó là máu. Đó là sự hy sinh.
Hôm nay, Đền thờ Liệt sĩ Long Khốt và Khu di tích Đồn Long Khốt đã trở thành địa chỉ đỏ của vùng biên giới Tây Nam. Không chỉ là nơi tri ân những người đã khuất, nơi đây còn nhắc nhở mỗi người đang sống rằng hòa bình chưa bao giờ là điều tự nhiên có được. Mỗi mùa lúa chín, mỗi con đường bê tông, mỗi ngôi trường mới đều được đánh đổi bằng máu và tuổi xuân của bao thế hệ. Nhưng nếu chỉ có đất thôi, có lẽ Long Khốt chưa thể trở thành quê hương thứ hai của chúng tôi. Chính con người nơi đây mới là điều níu giữ bước chân.
Trong chiến tranh, bà con vùng Vĩnh Hưng, Long Khốt, Tuyên Bình, Thái Bình Trung, Thái Trị… cưu mang bộ đội bằng tất cả tấm lòng. Những căn nhà lá trở thành hầm bí mật. Những chiếc xuồng ba lá lặng lẽ đưa thương binh qua kênh trong đêm tối. Những bữa cơm độn khoai, độn sắn vẫn dành phần ngon nhất cho người lính. Không ai hỏi quê ở đâu. Không ai hỏi quân hàm gì. Chỉ biết đó là bộ đội của cách mạng. Thế là đủ. Có lẽ, chính sự giản dị ấy đã làm nên sức mạnh của chiến tranh nhân dân.
Chiến tranh đã lùi xa.

Những mái nhà tranh ngày nào nay đã thành những ngôi nhà kiên cố. Những con đường đất mùa mưa lầy lội nay đã được bê tông hóa. Cánh đồng lúa nối tiếp cánh đồng lúa. Tiếng máy gặt thay tiếng đại bác. Tiếng trẻ thơ ríu rít át tiếng bom rơi năm cũ. Nhưng điều khiến chúng tôi xúc động nhất là nghĩa tình của người dân nơi đây vẫn vẹn nguyên như thuở nào.
Mỗi lần trở lại, vẫn những lời hỏi han mộc mạc:
– Mấy chú về rồi hả!
Chỉ một câu nói thôi cũng đủ làm ấm lòng những người lính đã đi qua gần hết cuộc đời. Vật đổi sao dời. Theo chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính, nhiều địa danh đã mang tên gọi mới. Nhưng trong lòng những người lính, Long Khốt vẫn là Long Khốt. Đền thờ Liệt sĩ Long Khốt vẫn là nơi hội tụ của nghĩa tình đồng đội. Khu di tích Đồn Long Khốt vẫn là biểu tượng của ý chí giữ nước nơi tuyến đầu biên giới. Điều làm tôi xúc động nhất trong chuyến trở về lần này lại không phải câu chuyện của quá khứ. Mà là câu chuyện của hôm nay.
Đầu tháng Bảy, anh Tuấn Anh - Bí thư Đảng ủy xã Vĩnh Hưng tìm đến gặp chúng tôi tại TP Hồ Chí Minh. Anh mang theo bản thiết kế biểu trưng của xã mới và tha thiết mong những người lính năm xưa góp ý.
Tôi lặng người. Không phải vì một bản thiết kế. Mà vì cách nghĩ của lớp cán bộ trẻ. Các cháu hiểu rằng, muốn bước tới tương lai thì trước hết phải biết cúi đầu trước lịch sử.
Tôi nói với Tuấn Anh: “Điều quý nhất không phải là một biểu trưng đẹp. Điều quý nhất là các cháu biết tìm đến những người đi trước để lắng nghe. Một thế hệ biết tri ân lịch sử sẽ là một thế hệ biết giữ gìn tương lai".
Tôi tin, dưới mái Đền thờ Liệt sĩ Long Khốt, những đồng đội của chúng tôi sẽ mỉm cười. Bởi điều các anh gửi lại không chỉ là những chiến công. Mà còn là một truyền thống. Truyền thống yêu nước. Truyền thống nghĩa tình. Truyền thống biết sống vì Tổ quốc.
Tháng Bảy. Khói hương vẫn lan tỏa trong khuôn viên đền.
Những cánh đồng lúa xanh ngút mắt đã thay cho hố bom năm cũ. Gió vẫn thổi qua những hàng tràm như mang theo lời thì thầm của những người đã khuất.
Đứng trước Đền thờ Liệt sĩ Long Khốt, tôi chợt hiểu rằng điều níu giữ chúng tôi suốt bao năm không chỉ là những người đồng đội đã hóa thân vào đất. Mà còn là những con người hôm nay đang lặng lẽ gìn giữ ký ức ấy bằng lòng biết ơn, bằng trách nhiệm và bằng những việc làm cụ thể mỗi ngày. Có người từng hỏi vì sao chúng tôi năm nào cũng trở lại Long Khốt. Hôm nay, tôi không còn trả lời bằng hai chữ “Đất và Người” như trước nữa.
Bởi ở Long Khốt, đất đã hóa thành người. Và con người cũng đã hóa thành đất. Những người đã ngã xuống nằm lại trong lòng đất để gìn giữ biên cương. Những người đang sống tiếp tục gìn giữ ký ức ấy bằng lao động, bằng nghĩa tình và bằng khát vọng xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp. Đó là sự tiếp nối không gì có thể chia cắt.
Đó cũng là sức mạnh làm nên trường tồn của dân tộc Việt Nam. Long Khốt hôm nay không chỉ là một địa danh. Long Khốt là một phần ký ức của Tổ quốc. Là nơi nhắc mỗi người Việt Nam rằng hòa bình không tự đến. Và khi còn những người biết trở về tri ân, biết cúi đầu trước lịch sử, biết sống xứng đáng với sự hy sinh của cha anh, thì mảnh đất này sẽ mãi xanh màu lúa, xanh màu hy vọng và xanh màu lòng yêu nước.
Long Khốt – Đất và Người.
Một miền đất đã đi vào lịch sử. Một miền đất sẽ còn đi cùng tương lai của dân tộc.