Hỏi: Tôi đã chuyển khoản một số tiền cho em tôi nhưng nhầm vào tài khoản của người khác nên đã khiếu nại lên ngân hàng. Ngân hàng thông báo người nhận nhầm không muốn trả số tiền đó. Vậy giờ tôi cần phải làm gì?

Trả lời: Khi phát hiện mình chuyển tiền nhầm vào tài khoản người khác, chủ tài khoản chuyển nhầm phải báo ngay cho ngân hàng nơi chuyển tiền để có cách xử lý kịp thời, thích hợp. Nếu ngân hàng đã giải quyết và thông báo người nhận nhầm không có ý định trả lại số tiền đó thì người dân thực hiện các phương án sau:
Trước tiên, người dân tố cáo người nhận tiền nhầm không trả đến cơ quan có thẩm quyền.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2018: “Tố cáo là việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật này báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, bao gồm: Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ; Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực”.
Người chuyển nhầm tài khoản tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người thụ hưởng đến cơ quan có thẩm quyền quy định tại Khoản 2 Điều 145 Bộ luật TTHS năm 2015 “Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gồm: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; Cơ quan, tổ chức khác tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm”
Do đó, người chuyển nhầm tài khoản có thể tố cáo tới Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, cơ quan tổ chức khác. Ở đây tố cáo đến cơ quan Công an nơi người thụ hưởng cư trú với hình thức thực hiện bằng đơn hoặc trình bày trực tiếp tại cơ quan, tổ chức có thẩm quyền (Điều 22 Luật Tố cáo năm 2018). Người tố cáo có thể làm đơn tố cáo hoặc đến trực tiếp cơ quan có thẩm quyền.
Khởi kiện ra Tòa án
Người chuyển nhầm có thể đề nghị ngân hàng cung cấp thông tin của chủ tài khoản này để khởi kiện đến Tòa án yêu cầu trả lại số tiền trên theo quy định tại khoản 1 Điều 579 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật thì phải hoàn trả cho chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản đó; nếu không tìm được chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản thì phải giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền…”.
Mặc khác, nếu cố tình chiếm hữu, sử dụng, không trả lại tiền cho người chuyển nhầm sau khi đã nhận được thông báo từ phía ngân hàng và người chuyển nhầm tiền, thì người cố tình chiếm hữu, sử dụng trái phép số tiền trên còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 176, Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.