Ngày 5/6/1911, từ bến cảng Nhà Rồng, thành phố Sài Gòn (nay là Thành phố Hồ Chí Minh), người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã lên con tàu Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin đi Mác Xây (Pháp) với khát vọng mãnh liệt tìm đường cứu nước, cứu dân.

Người đi tìm “Ánh sáng”
Đầu thế kỷ XX, dưới ách thống trị của chế độ thực dân phong kiến, chứng kiến cảnh nước nhà bị đô hộ, nhân dân lầm than khi “một cổ hai tròng” chịu nhiều cực khổ, bóc lột tàn bạo, nhiều phong trào yêu nước của các văn thân sĩ phu yêu nước nổ ra như: phong trào Cần Vương, khởi nghĩa Yên Thế, phong trào Duy Tân của Phan Chu Trinh, phong trào Đông kinh nghĩa thục của Phan Bội Châu… nhưng tất cả đều thất bại. Phong trào cứu nước, giải phóng dân tộc đứng trước một cuộc khủng hoảng, bế tắc cả về lý luận, đường lối và phương thức đấu tranh.
Ở tuổi 21, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành có khát vọng mãnh liệt với mong muốn và hoài bão là tìm ra con đường cứu nước, cứu dân. Ngưỡng mộ và kính trọng lòng yêu nước, sự dũng cảm và kiên cường của các bậc tiền bối, nhưng thực tế cho thấy, các phong trào, cuộc khởi nghĩa đều lần lượt thất bại.
Nguyễn Tất Thành nhận ra rằng, cần thiết phải có con đường mới phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử để giành lại độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân và chàng thanh niên 21 tuổi chọn đi sang phương Tây; nơi sớm nổ ra các cuộc cách mạng dân chủ tư sản, nơi các trào lưu tư tưởng tự do dân chủ và khoa học kỹ thuật đang phát triển mạnh mẽ. Phải ra đi xem xét họ làm ăn thế nào để trở về giúp đồng bào... là những suy nghĩ của Nguyễn Tất Thành.
Ngày 2/6/1911, Nguyễn Tất Thành đến bến Nhà Rồng liên hệ xin việc. Ngày 3/6/1911, Nguyễn Tất Thành được giới thiệu và nhận vào làm phụ bếp trên tàu Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin.
Ngày 5/6/1911, với tên Văn Ba, chàng thanh niên 21 tuổi Nguyễn Tất Thành theo tàu rời nước ra đi, đánh dấu khởi đầu cho một hành trình lịch sử với bao suy tư, trăn trở về vận mệnh dân tộc; như nhà thơ Chế Lan Viên đã viết trong bài thơ “Người đi tìm hình của nước”:
Đêm xa nước đầu tiên, ai nỡ ngủ
Sóng vỗ dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương
Trời từ đây chẳng xanh màu xứ sở
Xa nước rồi, càng hiểu nước đau thương…

Từ bến Nhà Rồng, Nguyễn Tất Thành đã đi qua Singapore, Cô lôm bô, vượt Hồng hải, qua Suez đến cảng Saïd, Mác Xây, Le Havre. Từ Pháp, Nguyễn Tất Thành trở lại Sài Gòn, rồi đi vòng quanh châu Phi, qua các nước: Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, An-giê-ri, Tuy-ni-di, trở lại các cửa biển Đông Phi, vòng qua Công-gô, Dahomey, Ghinê, Xê-nê-gan, vượt Đại Tây Dương tới Hoa Kỳ, vòng xuống Nam Mỹ, tới Agrentina,… Sau đó, trở lại Anh, về Pháp, qua Đức, tới Liên Xô, về Trung Quốc, sang Thái Lan…, tất cả hơn 30 nước.
Suốt hành trình dài qua các quốc gia đã cho Nguyễn Tất Thành những trải nghiệm sâu sắc. Những trải nghiệm thực tiễn đã giúp Người nhận rõ rằng, trên thế giới này, nơi đâu cũng có người nghèo và đối với bọn thực dân, tính mạng của người thuộc địa, dù da vàng hay da đen, đều không đáng một xu; người lao động ở đâu cũng khổ cực dưới sự áp bức, bóc lột dã man, vô nhân đạo của bọn thống trị. Nhiều học thuyết tiến bộ, nhiều mô hình cách mạng đã được Người tìm hiểu, song, theo Người, đó vẫn chỉ là những cuộc cách mạng “chưa đến nơi”.
Trong thời gian ở các quốc gia, Người đã làm rất nhiều công việc để sinh sống và hoạt động như: phụ bếp dưới tàu, làm bánh trong các khách sạn, cào tuyết, đốt lò, chụp ảnh…Người sống hòa mình cùng nhân dân lao động và các phong trào đấu tranh của công nhân. Qua những chuyến đi, gặp những người dân ở các giai cấp, Người thực sự hiểu rằng, chủ nghĩa đế quốc, thực dân là cội nguồn của mọi đau khổ cho giai cấp công nhân và nhân dân ở các nước chính quốc cũng như thuộc địa.

Năm 1919, Người gia nhập Đảng Xã hội Pháp vì nhận thấy “đây là tổ chức duy nhất ở Pháp bênh vực nước tôi và là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại cách mạng Pháp đó là Tự do, Bình đẳng, Bác ái”. Tháng 6/1919, thay mặt Hội những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Người gửi tới Hội nghị Versailles (Pháp) bản Yêu sách của Nhân dân An Nam, gồm 8 điểm đề nghị Chính phủ Pháp thừa nhận các quyền tự do, bình đẳng, dân chủ tối thiểu cho nhân dân Việt Nam.
Từ những hoạt động thực tiễn trên và đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin đăng trên báo Nhân đạo tháng 7/1920, Người đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Luận cương đã giải đáp cho Nguyễn Ái Quốc những băn khoăn về con đường giành độc lập, tự do cho dân tộc, trả lời câu hỏi ai là người lãnh đạo, lực lượng tham gia và mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng ở các nước thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc... như nhà thơ Chế Lan Viên viết:
“…Bác reo lên một mình như nói cùng dân tộc:
Cơm áo là đây! Hạnh phúc đây rồi
Hình của Đảng lồng trong hình của Nước
Phút khóc đầu tiên là phút Bác Hồ cười…”
Sau khi tìm ra con đường đúng đắn để giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc đã tập trung dành mọi tâm huyết và nỗ lực để truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị những tiền đề về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của một đảng cách mạng tiền phong của giai cấp công nhân Việt Nam.
Ngày 3/2/1930, tại Hương Cảng (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Đây là bước ngoặt lịch sử trọng đại, chấm dứt cuộc khủng hoảng kéo dài về đường lối chính trị và về tổ chức của các phong trào yêu nước Việt Nam.
Sự ra đời của Đảng khẳng định tầm nhìn, vai trò, bản lĩnh, trí tuệ và uy tín của Nguyễn Ái Quốc đối với cách mạng Việt Nam; là cống hiến to lớn và đầy sáng tạo của Người trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam.
Soi đường cho cách mạng Việt Nam
Sau 30 năm bôn ba nước ngoài, ngày 28/01/1941, Nguyễn Ái Quốc vượt qua cột mốc 108 (nay là cột mốc 1, xã Trường Hà, tỉnh Cao Bằng). Người lựa chọn Cao Bằng làm điểm đặt chân đầu tiên vì nhận định đây là vùng đất hội tụ đủ “thiên thời, địa lợi, nhân hoà” để xây dựng căn cứ địa cách mạng của cả nước. Người nhấn mạnh: “Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng nước ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi”. Từ ngày 8/2/1941, Người chuyển đến hang Cốc Bó, thôn Pác Bó để sống và làm việc.

Ngày 19/5/1941, giữa vùng núi rừng Pắc Bó, Người đã sáng lập Mặt trận Việt Minh. Mặt trận Việt Minh ra đời giữa lúc nhân dân Việt Nam vận mệnh dân tộc đang trong cảnh nước sôi lửa bỏng. Sự thành lập và hoạt động của Mặt trận Việt Minh đã trở thành nhân tố cơ bản quyết định thắng lợi của Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám 1945 và ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), trước quốc dân đồng bào, Người đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa nay là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây là thời khắc lịch sử của dân tộc Việt Nam.
Với cuộc hành trình “tìm đường”, “mở đường”,“dẫn đường” thực hiện khát vọng giải phóng và phát triển, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã cùng Đảng ta lãnh đạo toàn dân phá tan được chế độ quân chủ chuyên chế mấy nghìn năm, đánh đổ ách thống trị của thực dân Pháp và Nhật; lập nên một chính thể Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước dân chủ nhân dân kiểu mới đầu tiên ở Đông Nam Á. Đó là một thắng lợi xưa nay chưa từng có trong lịch sử nước ta. Nhân dân từ thân phận nô lệ bước lên địa vị làm chủ đất nước, làm chủ xã hội.

Dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh; cùng với lòng yêu nước mãnh liệt, khát vọng giải phóng dân của hàng triệu người dân Việt Nam; sự ủng hộ nghĩa tình của bè bạn quốc tế, chúng ta làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu và đỉnh cao Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Đất nước độc lập, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội và tiến hành công cuộc đổi mới với những thành tựu rất quan trọng trên tất cả các lĩnh vực.

115 năm đã trôi qua nhưng giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại của sự kiện Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước vẫn còn nguyên vẹn. Đó là biểu tượng sáng ngời của lòng yêu nước, ý chí tự lực tự cường, khát vọng độc lập dân tộc và tinh thần dám nghĩ, dám làm vì lợi ích của quốc gia, dân tộc.
Ngày 5/6/1911 là dấu mốc lịch sử quan trọng và thiêng liêng trong lịch sử dân tộc Việt Nam, có ý nghĩa trong trái tim của mỗi người dân Việt Nam. Thực tế lịch sử đã chứng minh, đó chính là "Đường cách mệnh" cho dân tộc ta mà Người đã chọn, sự lựa chọn lịch sử đúng đắn và duy nhất!
Kỷ niệm 115 năm Ngày Bác ra đi tìm đường cứu nước là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta ôn lại công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh; đồng thời rút ra những bài học quý báu, vận dụng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc… toàn Đảng, toàn quân và toàn dân nguyện vững bước trên con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ đã lựa chọn, xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, “sánh vai với các cường quốc năm châu” như ước mong giản dị của Người.