Nhà cách mạng Trần Bạch Đằng là biểu tượng cho sự kiên trung, tài hoa và sắc bén. Ông đã có những đóng góp to lớn trong công cuộc thống nhất, xây dựng và phát triển đất nước; đặc biệt là giai đoạn đổi mới.

Nung nấu ý chí cách mạng
Ông Trần Bạch Đằng tên thật là Trương Gia Triều (sinh ngày 15/7/1926), ông sinh trưởng trong một gia đình có truyền thông nho học tại làng Thạnh Hưng (nay thuộc xã Hòa Hưng), quận Giồng Riềng, tỉnh Rạch Giá (nay là tỉnh An Giang).
Thuở nhỏ, khi cùng gia đình sống ở Biên Hòa, Trần Bạch Đằng đã từng chứng kiến các cuộc mít tinh có treo cờ búa liềm ở ngã ba Bình Ý. Cũng chính tại Biên Hòa, Trần Bạch Đằng đã được quen biết với những chiến sĩ cách mạng nổi tiếng.
Ông tham gia cách mạng từ rất sớm, vào Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 11 năm 1943. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp, tháng 3 năm 1945, ông làm Bí thư Khu Ngã Sáu Chợ Lớn kiêm Ủy viên Ban Chấp hành Tổng Công đoàn Nam Bộ, tham gia phong trào Thanh niên Tiên phong, tích cực xây dựng Đoàn Thanh niên Cứu quốc, tổ chức Hội Truyền bá quốc ngữ... góp phần vào công tác chuẩn bị lực lượng của Đảng; tham gia giành chính quyền tại Sài Gòn trong Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Năm 1947, ông giữ chức vụ là Xứ Đoàn phó Đoàn Thanh niên Cứu quốc và được Xứ ủy Nam Bộ chỉ định là Trưởng Ban Thanh vận Xứ ủy, vào Chiến khu Đồng Tháp Mười, tham gia xây dựng Đài Tiếng nói Nam Bộ.
Đầu năm 1949, trên đường ra Việt Bắc dự Đại hội toàn quốc lần thứ II của Đảng, khi tới địa phận Dốc Mỏ, Tuy Hòa (nay thuộc tỉnh Khánh Hòa), ông không may rơi vào tay giặc. Kẻ thù giam ông ở Nha Trang một thời gian, sau đó chuyển về bốt Catinat, Sài Gòn.
Tại những nơi này, ông bị tra tấn hết sức dã man nhưng địch không khai thác được thông tin gì ở người chiến sĩ kiên trung. Sau hơn nửa năm bị giam ở nhiều nhà tù khác nhau, ngày 11/11/1949, ông vượt ngục thành công, bắt liên lạc được với đồng đội và về hoạt động tại vùng giải phóng Khu 9.
Năm 1965, sau thất bại của chiến lược "Chiến tranh đặc biệt", Mỹ đã đẩy cuộc chiến tranh lên một nấc thang mới, thực hiện chiến lược "Chiến tranh cục bộ", đổ quân trực tiếp tham chiến.
Lúc này, Trần Bạch Đằng lại một lần nữa về hoạt động ngay tại trung tâm sào huyệt, nơi trú đóng các cơ quan đầu não của kẻ thù.
Với vai trò Ủy viên Ban Thường vụ Khu ủy Sài Gòn - Gia Định, tháng 10 năm 1967, giải thể Khu Sài Gòn - Gia Định, lập ra Khu Trọng điểm có 6 Phân khu, Trần Bạch Đằng làm Bí thư nội thành (Phân khu 6).
Bằng kinh nghiệm thực tiễn của mình, ông đã cùng Khu ủy có nhiều chỉ đạo sát đúng qua đó xây dựng được một lực lượng chính trị đông đảo trong các tầng lớp nhân dân, từ công nhân, nông dân, học sinh, sinh viên đến nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ.
Trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968, ông được cử làm Phó Bí thư Đảng ủy Bộ Tư lệnh Tiền phương Nam (Bộ Tư lệnh Tiền phương II), Bí thư Đảng ủy Quân sự thành phố.
Trong chiến dịch này, các đơn vị bảo vệ trực thuộc Khu ủy Sài Gòn do ông phụ trách và các đơn vị khác do ông Võ Văn Kiệt, ông Mai Chí Thọ phụ trách đều đã giữ gìn tuyệt đối an toàn cho lãnh đạo, sẵn sàng chiến đấu kiên cường mỗi khi xảy ra tình huống nguy hiểm.
Ông đã cùng Thành ủy vừa đánh địch, vừa củng cố lực lượng, vừa tiến hành tổ chức các Hội nghị Thành ủy mang mật danh "Bình Giã" nhằm tổng kết, rút kinh nghiệm trong đấu tranh đô thị, rút ra những bài học được và chưa được trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân; đề ra phương hướng, nhiệm vụ, tìm các phương thức chỉ đạo hoạt động của ba mũi giáp công chính trị, quân sự và binh vận trên toàn bộ địa bàn Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định trong tình hình mới.
Đầu tháng 01/ 1971, khi ông Võ Văn Kiệt được Trung ương Cục điều động về làm Bí thư Khu ủy Khu 9, Trần Bạch Đằng thay ông Võ Văn Kiệt giữ nhiệm vụ Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Gia Định. Đây là thời kỳ hoạt động sôi nổi, đầy năng động, sáng tạo, phản ánh rõ nét bản lĩnh, chân dung, tính cách của ông.
Cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi của ông đã có những dấu ấn sâu đậm đối với Đảng bộ và nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định. Sống trong sự chở che, đùm bọc của nhân dân, ông thấu hiểu tình cảnh, nguyện vọng, ý chí cách mạng; động viên, tổ chức để nhân dân đứng lên làm cách mạng.
Đó là một quá trình thâm nhập thực tiễn cách mạng rất phong phú; thông qua các hoạt động tại cơ sở, ông đã tích lũy cho mình một vốn kiến thức vô cùng dày dạn và sâu rộng.
Từ đó phác họa nên những chủ trương, kế hoạch của Đảng bộ Thành phố, nhất là sự chỉ đạo rất nhạy bén trong phong trào đấu tranh đô thị và nông thôn. Gắn bó mật thiết với nhân dân, bám sát thực tiễn cách mạng là tính cách đặc biệt, làm cơ sở cho hoạt động của Trần Bạch Đằng.
Một ngòi bút vì Đảng, vì dân
Ngoài vai trò là một chiến sĩ cách mạng kiên trung, một cán bộ lãnh đạo đầy bản lĩnh trong thời kỳ kháng chiến, ông còn là một nhà nghiên cứu, nhà báo, nhà văn lớn. Ông đã có nhiều đóng góp sâu sắc trong việc xây dựng nền văn hóa mới, đặc biệt ở Sài Gòn.
Những năm đầu Nam Bộ kháng chiến chống Pháp (23/9/ 1945), ông làm chính trị viên bộ đội Bình Đăng; cuối năm 1946, ông được bổ sung vào Thành ủy lâm thời Sài Gòn - Chợ Lớn, là Ủy viên Thường vụ Thành ủy phụ trách tuyên huấn, Thư ký tòa soạn báo Chống xâm lăng - cơ quan ngôn luận của Thành ủy Sài Gòn.
Đặc biệt, sau Hiệp định Genève, ông được phân công ở lại miền Nam; trong suốt thời gian kháng chiến chống Mỹ, ông đã đảm đương nhiều công việc, hoạt động trên nhiều lĩnh vực, nổi bật hơn cả, ông thể hiện là nhà cách mạng chuyên nghiệp và là một cây bút tài năng.
Năm 1950, tại Đại hội lần thứ hai của Đoàn Thanh niên Cứu quốc Nam Bộ, Trần Bạch Đằng được bầu làm Bí thư (Xứ Đoàn trưởng), kiêm Phó Ban Tuyên huấn Xứ ủy Nam Bộ (sau này là Trung ương Cục miền Nam); chủ bút báo Nhân dân miền Nam và chủ nhiệm báo Việt - Xô.
Năm 1960, khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, ông được bầu làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, phụ trách văn hóa - thông tin, kiêm Chủ tịch Hội đồng Văn học - Nghệ thuật Giải phóng.
Ông không chỉ là một trong những cây bút chính luận sắc sảo của báo chí cách mạng Việt Nam, nhà báo Trần Bạch Đằng còn là người góp phần định hình tư duy đổi mới qua từng trang viết đầy tâm huyết.
Ông đã tham gia viết báo công khai, góp phần xuất sắc cho phong trào đô thị cũng như cuộc đấu tranh của ta trên báo chí công khai tại Sài Gòn.

Trong những tác phẩm của nhà báo Trần Bạch Đằng, điển hình là "Đổi mới - Đi lên từ thực tế", được Nhà Xuất bản Trẻ in lần đầu vào năm 2004, tập hợp 100 bài viết đặc sắc của ông, gắn liền với thực tế đổi mới và phát triển của đất nước từ năm 1975 - 2000.
Tác phẩm gồm 3 phần: "Thôi thúc của đổi mới"; "Gian nan buổi đầu" và "Chín năm cho một cuộc hồi sinh", khắc họa diện mạo của đất nước và tinh thần của nhân dân trong những năm đầu sau ngày đất nước thống nhất đến năm 2000.

Đây là một công trình chính luận đồ sộ, đầy tâm huyết của Trần Bạch Đằng, mạnh mẽ cổ vũ nhân tố tích cực, ủng hộ hành động đối mới từ cơ sở.
Từng trang viết của ông còn thể hiện sự thẳng thắn, quyết liệt trong đấu tranh với tư tưởng bảo thủ, trì trệ, quan liêu, bao cấp. Chính tinh thần ấy đã thổi luồng sinh khí mới vào báo chí, văn hóa, tư tưởng thời kỳ đầu đổi mới, truyền cảm hứng bước vào thời kỳ chuyển mình của đất nước.
Ông còn viết hàng ngàn bài báo đầy tâm huyết và là tác giả của những tiểu thuyết nổi tiếng, đã được xây dựng thành những bộ phim có giá trị lịch sử.
81 tuổi đời, 64 tuổi Đảng, 66 năm hoạt động cách mạng, ông đã trải qua nhiều cương vị công tác, có những đóng góp quan trọng cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
Dở mỗi giai đoạn, mỗi vị trí, ông luôn giữ vững lòng kiên trung, hoạt động đầy sung mãn trên nhiều lĩnh vực, giàu nghị lực của người chiến sĩ cách mạng trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do, xây dựng đất nước với trí tuệ tinh thông, tư duy nhạy bén, sắc sảo, bản tính cần mẫn, nghiêm túc trong công việc, khoáng đạt trong ứng xử và luôn tự học trong cuộc sống, trong thực tiền chiến đấu.
Kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông là dịp để mỗi người tưởng nhớ, biết ơn những đóng góp to lớn của Trần Bạch Đằng đối với sự cách mạng nói chung và báo giới nước nhà nói riêng. Tên tuổi, sự nghiệp của ông là tấm gương sáng cho thế hệ hôm nay và mai sau noi theo. "Một người cộng sản đích thực, một cây bút trí tuệ, tài hoa" là hình ảnh mà người đời sẽ nhớ mãi về ông.