Dùng phần mềm “lậu” có thể bồi thường đắt đến mức nào?
Dự thảo Án lệ số 16/2026 đặt ra một câu hỏi đáng chú ý đó là khi doanh nghiệp sao chép phần mềm không phép, Tòa án sẽ căn cứ vào mức giá nào để xác định tiền bồi thường?

Một doanh nghiệp bị phát hiện sao chép phần mềm thiết kế trên máy tính mà không được sự cho phép của chủ sở hữu. Ban đầu, chủ phần mềm yêu cầu bồi thường hơn 12,6 tỷ đồng, tính theo giá cấp phép trọn bộ, sau đó nhiều lần điều chỉnh yêu cầu. Tòa án cấp sơ thẩm xác định mức bồi thường hơn 1,61 tỷ đồng. Đến cấp phúc thẩm, chủ phần mềm tự nguyện giảm yêu cầu và số tiền bị đơn phải trả còn 1,128 tỷ đồng.
Những con số này đủ gây chú ý. Tuy nhiên, giá trị pháp lý đáng quan tâm hơn của vụ việc nằm ở một câu hỏi sâu hơn: Nếu không có hóa đơn bán đúng phiên bản phần mềm bị sao chép, tại đúng thời điểm xảy ra vi phạm, chủ sở hữu có thể sử dụng giá của một hợp đồng cấp phép khác để chứng minh mức bồi thường hay không?
Theo luật sư Đặng Thị Thúy Huyền, cần phân biệt rạch ròi giữa giá niêm yết của cả bộ phần mềm, giá của một hợp đồng cấp phép đã thực hiện và thiệt hại thực tế phát sinh.
Vi phạm bản quyền và số tiền bồi thường là hai bài toán khác nhau
Theo hồ sơ trong Dự thảo Án lệ số 16/2026, cuộc kiểm tra ngày 12/4/2019 phát hiện doanh nghiệp bị kiện đã sao chép phần mềm Pro/ENGINEER Wildfire 5.0 mà không được phép.
Doanh nghiệp đã ký biên bản vi phạm; cơ quan thanh tra sau đó ban hành kết luận và quyết định xử phạt hành chính, buộc gỡ bỏ các bản sao. Sau đó, chủ sở hữu khởi kiện dân sự, yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Việc đã bị xử phạt hành chính không làm mất quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường của chủ sở hữu. Tiền phạt hành chính là biện pháp xử lý đối với hành vi vi phạm theo quy định của Nhà nước; trong khi tiền bồi thường là biện pháp dân sự nhằm khắc phục tổn thất cho chủ thể quyền bị xâm phạm theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
Tuy nhiên, việc biên bản thanh tra và quyết định xử phạt chứng minh hành vi vi phạm không đồng nghĩa với việc mọi con số do chủ sở hữu đưa ra đều mặc nhiên được xem là thiệt hại phải bồi thường.
Theo pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành, chương trình máy tính được bảo hộ theo chế độ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, khoa học (Điều 22); chủ sở hữu có độc quyền cho phép hoặc ngăn cấm người khác sao chép, sử dụng trong phạm vi quyền tài sản của mình (Điều 20). Điều 204 đặt nền tảng cho việc xác định thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; Điều 205 quy định các căn cứ để tòa án xác định mức bồi thường thiệt hại.
Đối với phương pháp xác định bồi thường dựa trên giả định chuyển giao quyền sử dụng tác phẩm theo điểm a khoản 1 Điều 205, vấn đề cần chứng minh không chỉ là “phần mềm có giá”, mà quan trọng hơn là mức giá cấp phép được viện dẫn phù hợp đến đâu với quyền, phạm vi, tính năng và cách thức sử dụng đã bị xâm phạm trên thực tế.
Vì sao yêu cầu hơn 12,6 tỷ đồng không được giữ nguyên?
Chủ phần mềm ban đầu tính mức bồi thường theo giá cấp phép trọn bộ gồm 173 mô đun. Tuy nhiên, trong giao dịch thực tế, khách hàng có thể chỉ mua những gói mô đun đáp ứng nhu cầu thiết kế và gia công của mình. Chính nguyên đơn sau đó đã thu hẹp yêu cầu, dựa trên một hợp đồng cấp phép đã được thực hiện tại Việt Nam trước thời điểm xảy ra vi phạm.
Đây là một ranh giới quan trọng trong tranh tụng về sở hữu trí tuệ: Việc cài đặt một phần mềm có nhiều chức năng không tự động đồng nghĩa với việc bên vi phạm đã khai thác toàn bộ các chức năng đó và phải chịu mức giá tương đương một giấy phép trọn bộ. Muốn yêu cầu bồi thường theo giá trọn bộ, bên yêu cầu phải có chứng cứ đủ sức kết nối phạm vi xâm phạm với phạm vi cấp phép tương ứng.
Dự thảo án lệ lựa chọn đoạn [18] của Bản án phúc thẩm số 07/2023/KDTM-PT làm nội dung án lệ. Theo nhận định này, hợp đồng cấp phép đã được thực hiện trước thời điểm xảy ra hành vi xâm phạm là cơ sở để xác định giá chuyển giao quyền sử dụng trên thị trường Việt Nam. Mức bồi thường được cấp sơ thẩm chấp nhận là 69.590 USD, quy đổi tại thời điểm xét xử thành 1.611.704.400 đồng, dựa trên gói phần mềm trong hợp đồng ngày 26/4/2016.
Điểm đáng chú ý là hồ sơ còn có một giao dịch năm 2019 với mức giá cao hơn, nhưng giao dịch này được thực hiện sau thời điểm phát hiện hành vi vi phạm. Việc lựa chọn hợp đồng được ký trước thời điểm xâm phạm giúp tránh nguy cơ lấy một mức giá hình thành sau đó để áp vào một hành vi xảy ra trước đó.
Dẫu vậy, khái niệm “gần nhất” cũng không nên được hiểu như một công thức máy móc. Hợp đồng được lựa chọn để đối chiếu vẫn cần được xem xét về phiên bản phần mềm, mô đun, thời hạn giấy phép, số lượng người dùng, điều kiện hỗ trợ kỹ thuật và các thành phần giá đi kèm.
Có bắt buộc giám định giá hoặc tính theo từng ngày sử dụng?
Bị đơn cho rằng, cần trưng cầu định giá và xác định chính xác số ngày nhân viên sử dụng phần mềm. Đây là hướng phản biện có cơ sở để xem xét, đặc biệt trong trường hợp các giấy phép được so sánh có sự khác biệt đáng kể về thời hạn hoặc phạm vi sử dụng.
Tuy nhiên, trong vụ việc này, Tòa án nhận định các hợp đồng, hóa đơn và chứng cứ về đại lý được ủy quyền đã thể hiện giá giao dịch thực tế; chính sách cấp phép của chủ sở hữu cũng không tính giá theo ngày. Vì vậy, Tòa án không chấp nhận lập luận cho rằng phải chia giá giấy phép theo số ngày sử dụng.
Theo tôi, cần đọc nhận định này đúng trong phạm vi của vụ việc. Không phải mọi trường hợp sao chép phần mềm đều mặc nhiên phải bồi thường nguyên giá của một giấy phép dài hạn chỉ vì bị phát hiện cài đặt phần mềm.
Nếu giấy phép được sử dụng để đối chiếu có thời hạn ba năm, bao gồm dịch vụ hỗ trợ hoặc cho nhiều người dùng, trong khi hành vi xâm phạm thực tế chỉ liên quan đến một phạm vi hẹp hơn, bị đơn có quyền yêu cầu làm rõ và đưa ra chứng cứ phản bác.
Ngược lại, nếu chủ sở hữu chứng minh được giao dịch đối chiếu có mức độ tương đồng cao và mô hình kinh doanh chỉ cấp phép theo gói, thì lập luận “tôi chỉ sử dụng vài ngày” cũng chưa đủ để tự động làm giảm mức bồi thường.
Một vấn đề khác được đặt ra là sự thay đổi tên và phiên bản sản phẩm, từ Pro/ENGINEER Wildfire sang Creo. Trong hồ sơ, Tòa án xem xét chuỗi đăng ký quyền tác giả, quá trình phát triển các phiên bản và những tài liệu liên quan để đánh giá quan hệ kế thừa.
Việc đổi tên sản phẩm không đương nhiên làm chấm dứt quyền tác giả. Nhưng ngược lại, cũng không thể chỉ dựa vào tên thương mại mới để khẳng định mọi gói Creo đều tương đương với phần mềm Wildfire đã bị sao chép. Đây là vấn đề cần được chứng minh bằng tài liệu kỹ thuật và chứng cứ giao dịch cụ thể.
Vì sao bản án cuối cùng chỉ tuyên 1,128 tỷ đồng?
Con số 1,128 tỷ đồng không phải là một mức giá mới do Tòa án xác định lại cho phần mềm. Theo dự thảo án lệ, tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn đã tự nguyện giảm yêu cầu xuống số tiền này và hội đồng xét xử công nhận sự tự định đoạt đó.
Hai bên cũng thống nhất việc bị đơn xin lỗi tại phiên tòa và gửi văn bản xin lỗi, thay cho yêu cầu đăng lời xin lỗi trên ba tờ báo.
Vì vậy, khi trích dẫn vụ việc, cần phân biệt rõ: 1.611.704.400 đồng là mức bồi thường được cấp sơ thẩm chấp nhận theo phương pháp xác định dựa trên giá cấp phép; còn 1.128.000.000 đồng là nghĩa vụ được tuyên tại bản án phúc thẩm sau khi nguyên đơn tự nguyện giảm yêu cầu. Gộp hai bước này thành một phép tính sẽ làm sai lệch ý nghĩa của bản án.
Từ góc nhìn luật sư, vụ việc gửi đi một thông điệp thực tế cho cả hai phía.
Đối với chủ sở hữu phần mềm, cần lưu giữ đầy đủ hợp đồng cấp phép, hóa đơn, chứng từ thanh toán, giấy ủy quyền đại lý và các tài liệu giải thích sự tương đồng giữa các phiên bản, mô đun. Đối với doanh nghiệp sử dụng phần mềm, cần quản lý chặt chẽ quyền cài đặt trên các máy làm việc, kiểm tra giấy phép và lưu giữ chứng cứ về số lượng máy, tài khoản, thời hạn và chức năng thực tế được sử dụng.
Khi tranh chấp phát sinh, chính những dữ liệu này có thể quyết định một yêu cầu bồi thường đứng vững đến đâu, hay phải được thu hẹp đến mức nào.
Một bản phần mềm được sao chép không phép có thể dẫn đến nghĩa vụ bồi thường rất lớn. Nhưng để một con số bồi thường có thể đứng vững, pháp luật đòi hỏi con số ấy phải được đặt trên nền tảng của chứng cứ, sự so sánh có thể kiểm chứng và quyền tranh luận bình đẳng của các bên.
Dự thảo Án lệ số 16/2026 xem TẠI ĐÂY.