Đời sống

Bốn đời theo nghề biển khơi

Nguyễn Ngọc Lân 19/06/2026 - 11:06

Từ nhiều đời nay, biển không chỉ là nguồn sống mà còn trở thành nghề nghiệp được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở các làng chài ven biển tỉnh Đắk Lắk. Câu chuyện bốn thế hệ gắn bó với biển của gia đình ông Nguyễn Cho (phường Bình Kiến) là một lát cắt tiêu biểu cho long yêu nghề, ý chí bám biển và khát vọng vươn khơi của những người con miền biển hôm nay.

Khát vọng vươn khơi

Trong căn nhà nhỏ nằm nép mình bên những con đường dẫn ra biển ở khu phố Long Thủy (phường Bình Kiến, tỉnh Đắk Lắk), ông Nguyễn Cho lặng lẽ đứng nhìn những con tàu cập bến. Đôi mắt người đàn ông ngoài sáu mươi tuổi vẫn ánh lên niềm vui mỗi khi thấy biển bình yên và những chuyến tàu đầy ắp cá tôm trở về.

Biển đã trở thành một phần máu thịt trong cuộc đời ông. Không chỉ riêng ông, mà cả gia đình ông đã có bốn thế hệ gắn bó với nghề biển.

“Ông nội làm biển, cha làm biển, rồi tới tui. Giờ con cháu cũng tiếp tục theo biển. Nghề này như ngấm vào máu từ nhỏ rồi”, ông Cho chậm rãi kể.

2.jpeg
Các người con trai của ông Cho đang tiếp tục theo nghề biển.

Câu chuyện về gia đình ông cũng là câu chuyện thu nhỏ của biết bao gia đình ngư dân nơi đây, những con người đã dành cả cuộc đời để sống cùng biển, dựa vào biển và truyền lại tình yêu ấy cho các thế hệ tiếp nối.

Trong ký ức của ông Cho, những chuyến biển đầu tiên của ông nội là hình ảnh của sự nhọc nhằn đến khó tưởng tượng đối với lớp ngư dân hôm nay. Ngày ấy chưa có máy móc, chưa có thiết bị định vị, càng không có những chiếc tàu công suất lớn như bây giờ. Mỗi chuyến ra khơi đều dựa vào sức người, vào kinh nghiệm được tích lũy qua nhiều năm và cả sự gan góc trước những bất trắc của biển cả.

“Thời ông nội đi biển là chèo hoàn toàn bằng sức người. Muốn ra xa phải chèo cả ngày. Gặp gió lớn thì cực lắm”, ông Cho nhớ lại.

Đến đời cha ông, nghề biển bắt đầu có những thay đổi khi những chiếc máy nổ đầu tiên xuất hiện. Tuy nhiên, điều kiện đánh bắt vẫn còn vô cùng khó khăn. Những chuyến biển kéo dài nhiều ngày trong điều kiện thiếu thốn đủ bề.

Đến lượt mình, ông Cho tiếp tục nối nghiệp gia đình. Năm 17 tuổi, chàng trai trẻ ngày ấy lần đầu tiên theo tàu ra khơi. Biển khi ấy vừa là niềm háo hức, vừa là thử thách. Những đêm đầu tiên lênh đênh trên sóng lớn khiến ông say sóng đến lả người. Nhưng rồi sự rộng lớn của đại dương, những mẻ cá đầy khoang và cảm giác chinh phục biển khơi đã giữ chân ông ở lại với nghề.

“Đi một thời gian rồi mê luôn. Nghề biển cực nhưng đã yêu rồi thì bỏ không được”, ông Cho cười.

Suốt hơn nửa thế kỷ, ông đã chứng kiến từng bước đổi thay của nghề biển. Từ những chiếc ghe nhỏ lênh đênh ven bờ đến những con tàu có thể vươn ra ngư trường xa. Từ những chiếc la bàn đơn sơ đến hệ thống định vị vệ tinh hiện đại. Từ việc dò luồng cá bằng kinh nghiệm đến sử dụng các thiết bị điện tử hỗ trợ đánh bắt.

Biển vẫn vậy, nhưng nghề biển đã đổi thay rất nhiều. Nhắc đến những năm tháng biển còn hào phóng, ánh mắt ông Cho bỗng sáng lên. Ông kể rằng ngày trước cá tôm nhiều vô kể. Có những chuyến biển chỉ vài ngày là khoang tàu đã đầy ắp. Nhưng điều khiến ông tự hào nhất không phải là những mẻ cá lớn, mà là việc nghề biển đã nuôi sống biết bao gia đình.

“Một chiếc tàu có 12 đến 13 lao động. Mỗi người là trụ cột của một gia đình. Nghĩa là một con tàu có thể nuôi sống hơn chục gia đình khác nhau”, ông Cho nói.

Sau mỗi chuyến biển thắng lợi là những mái nhà sáng đèn, là những đứa trẻ được đến trường, là những gia đình có thêm điều kiện để vươn lên.

Biển không chỉ mang lại nguồn sống. Biển còn là nơi kết nối cộng đồng ngư dân bằng tình làng nghĩa xóm, bằng sự sẻ chia giữa những con người cùng chung số phận. Giữa đại dương mênh mông, họ luôn xem nhau như anh em một nhà.

Khi một tàu gặp nạn, những tàu khác sẵn sàng hỗ trợ. Khi một gia đình gặp khó khăn, cả làng chài cùng chung tay giúp đỡ. Có lẽ chính điều đó đã tạo nên bản sắc đặc biệt của những cộng đồng ngư dân ven biển. Giờ đây, tuổi đã cao, ông Cho không còn trực tiếp ra khơi.

Những cơn đau lưng, những dấu vết của năm tháng lênh đênh trên biển đã buộc ông phải ở lại đất liền. Thế nhưng biển chưa bao giờ rời xa ông. Trong góc nhà, những mô hình tàu cá được ông cẩn thận chế tác vẫn xếp ngay ngắn.

Còn biển, còn nghề

Mỗi chiếc tàu là một câu chuyện. Có chiếc mô phỏng con tàu ông từng gắn bó hàng chục năm. Có chiếc được làm theo mẫu những tàu đánh bắt xa bờ hiện đại của con trai ông hiện nay. Những mô hình ấy không chỉ là thú vui tuổi già. Đó còn là cách ông giữ biển lại trong cuộc sống của mình. “Mỗi lần làm mô hình tàu là như đang sống lại những ngày còn đi biển”, ông Cho tâm sự.

Ngoài hiên nhà, tiếng sóng biển vọng vào đều đặn như một nhịp thở quen thuộc. Người đàn ông đã dành cả đời cho biển vẫn luôn hướng mắt về phía khơi xa. Trong bốn người con của ông Cho, có ba người tiếp tục gắn bó với nghề biển.

Nguyễn Văn Đài là một trong số đó. Tuổi thơ của anh gắn liền với những lần đứng trên bờ ngóng tàu cha trở về. Những buổi sáng theo cha ra bến cá, những lần nghe kể chuyện biển đêm, chuyện những cơn giông bất chợt hay những chuyến đánh bắt thắng lợi đã nuôi lớn trong anh niềm yêu thích đặc biệt với nghề biển.

“Hồi nhỏ thấy ba đi biển là thích rồi. Lớn lên theo làm tới giờ luôn”, anh Đài kể.

1(3).jpg
Ông Nguyễn Cho bên mô hình tàu cá do ông cẩn thận chế tác.

Không có những lời hứa hẹn hay định hướng cụ thể nào. Tình yêu nghề đến với anh một cách tự nhiên như hơi thở của biển. Ngày anh quyết định theo nghề, ông Cho không ngăn cản. Bởi hơn ai hết, ông hiểu cảm giác của một người đã trót yêu biển. “Biển cực nhưng nếu đã yêu rồi thì không bỏ được”, anh Đài nói.

Hiện nay, điều kiện đi biển đã tốt hơn rất nhiều so với thời cha ông. Tàu cá được trang bị hiện đại hơn, công tác thông tin liên lạc thuận lợi hơn, các thiết bị cứu hộ cứu nạn cũng đầy đủ hơn.

Tuy nhiên, nghề biển vẫn còn đó vô vàn gian nan. Những chuyến ra khơi nhiều ngày liên tiếp, những đêm thức trắng giữa biển, những lúc đối mặt với sóng lớn hay thời tiết bất thường vẫn là thử thách không nhỏ đối với ngư dân.

“Đi biển cực lắm. Có khi nhiều ngày không ngủ đủ giấc. Nhưng nhờ nghề này mà nuôi được gia đình nên mình vẫn gắn bó”, anh Đài chia sẻ.

Điều anh mong nhất sau mỗi chuyến ra khơi vẫn là trời yên biển lặng, tàu thuyền an toàn và những khoang cá đầy trở về.

Mỗi khi những người con trai chuẩn bị ra khơi, ông Cho vẫn giữ thói quen cùng con kiểm tra lưới cụ. Đôi bàn tay từng chai sần vì dây lưới nay đã chậm hơn trước, nhưng sự tỉ mỉ thì vẫn nguyên vẹn. Ông xem từng tay lưới, từng sợi dây neo như thể đang chuẩn bị cho chính chuyến biển của mình. Những lời dặn dò giản dị được lặp lại sau mỗi lần tàu rời bến. “Giữ an toàn - Theo dõi thời tiết - Giúp đỡ nhau trên biển.

Những lời căn dặn ấy không chỉ là kinh nghiệm của một người làm nghề lâu năm mà còn là sự gửi gắm của một người cha. Ở đó có tình yêu gia đình, có trách nhiệm với nghề và cả sự trân trọng dành cho biển cả. Bốn thế hệ đã đi qua. Từ những mái chèo gỗ thô sơ của ông nội, những chiếc thuyền máy đầu tiên của cha ông, đến những con tàu hiện đại hôm nay.

Biển vẫn âm thầm chứng kiến hành trình ấy và trong dòng chảy không ngừng của thời gian, có những giá trị vẫn còn nguyên vẹn. Đó là tình yêu nghề, là ý chí bám biển. Là khát vọng vươn khơi của những con người đã chọn biển làm quê hương thứ hai của cuộc đời mình.

Những chuyến tàu rồi sẽ tiếp tục ra khơi. Những người con của ông Cho rồi sẽ tiếp tục nối dài hành trình mà cha ông để lại. Và ngọn lửa yêu biển được gìn giữ suốt nhiều thế hệ vẫn sẽ cháy mãi, như ánh đèn trên mũi tàu soi đường cho những lớp ngư dân tiếp tục vươn khơi, bám biển và giữ lấy nguồn sống từ đại dương bao la.

(0) Bình luận
Nổi bật
Đừng bỏ lỡ
Bốn đời theo nghề biển khơi
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO