Năm 1911, từ Bến Nhà Rồng, người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước; năm 1976, Thành phố vinh dự mang tên Người và đến nay, TP.HCM là một siêu đô thị năng động bậc nhất cả nước. TP.HCM đã trải qua hành trình 50 năm đầy tự hào. Đó là câu chuyện của khát vọng vươn lên, tinh thần tiên phong và sức sống bền bỉ của Thành phố mang tên Bác.
Hơn một thế kỷ trước, Bến Nhà Rồng từng là thương cảng sầm uất bậc nhất Đông Dương và cũng chính từ bến này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khởi đầu hành trình ra đi tìm đường cứu nước. Ảnh: Flickr.
Trong dòng chảy lịch sử suốt nửa thế kỷ từ khi Thành phố Sài Gòn – Gia Định vinh dự mang tên Bác, TP.HCM không chỉ là một đô thị đang phát triển mà còn là nơi lưu giữ những ký ức thiêng liêng về vị lãnh tụ thiên tài, vị cha già kính yêu của dân tộc.
Giáo sư, tiến sĩ (GS.TS) Trình Quang Phú - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và phát triển phương Đông (Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam) không khỏi bồi hồi khi hồi tưởng khi chia sẻ tình cảm, suy nghĩ về một thời tuổi trẻ đầy nhiệt huyết của Bác.
GS.TS Trình Quang Phú - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và phát triển phương Đông.
“
Với Bác, Sài Gòn chính là "cột mốc quyết định" trong hành trình vạn dặm.
GS.TS Trình Quang Phú - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và phát triển phương Đông.
Theo GS.TS Trình Quang Phú, những trải nghiệm từ khi tham gia phong trào chống thuế tại miền Trung đã góp phần quan trọng hình thành nên ý chí của Người. Với Bác, Sài Gòn chính là "cột mốc quyết định" trong hành trình vạn dặm. Dù thời gian Người ở lại đây không dài nhưng Người đã dành trọn tâm sức để thâm nhập vào thực tế đời sống, từ những người lao động nghèo khổ cho đến tầng lớp trí thức yêu nước nhằm tìm kiếm một cơ hội thực sự để cứu dân, cứu nước.
Chợ Bến Thành (ảnh tư liệu)
Cây xăng ở góc Phan Thanh Giản – Lê Văn Duyệt – 1968 (ảnh tư liệu).
Thời điểm lịch sử năm 1911, Sài Gòn sở hữu hai hệ thống bến cảng sầm uất, đó là Thương cảng Sài Gòn nối tiếp từ Quân cảng đến cửa kênh Bến Nghé dành cho tàu nước ngoài và phía bên kia khu vực Bến Nghé là cảng Khánh Hội, nơi có trụ sở với biểu tượng hai con rồng chầu dành riêng cho hãng tàu Messageries Maritimes (đầu ngựa).
“Ngày đó, trụ sở của hãng tàu Chargeurs Réunis (còn gọi là hãng Năm Sao) nằm tại số 2 đường Đồng Khởi. Hãng này có con tàu Amiral Latouche-Tréville, con tàu Bác làm thủy thủ. Khu vực này gắn liền với những địa danh cổ kính như khách sạn Majestic Sài Gòn hay khách sạn Batis, nơi Bác thường xuyên lui tới để tìm hiểu thông tin và xin phép xuống tàu xin việc. Trong số tất cả các tỉnh thành miền Nam Bác từng dừng chân như Huế, Hội An, Qui Nhơn, Phan Thiết thì Sài Gòn chính là nơi để lại cho Người nhiều xúc động và rung động nhất”, GS Trình Quang Phú nói.
Cầu Rạch Chiếc (ảnh tư liệu)
Cầu Tân Cảng, nay là cầu Sài Gòn (ảnh tư liệu).
Sân bay Tân Sơn Nhất (ảnh tư liệu)
Đó không chỉ là nơi Người chia tay nhân dân trong niềm nghẹn ngào, mang theo cả mối tình đầu đời với người bạn gái (Lê Thị Huệ - hay còn gọi là “Út Huệ”) mà còn là nơi tiếp thêm năng lượng cho hành trình tìm đường cứu nước.
Sài Gòn với truyền thống kiên cường đã đứng lên khởi nghĩa vào ngày 23/9/1945 sớm nhất cả nước. Chính vì tinh thần kiên cường đó, ngay từ những năm 1946, bác sĩ Trần Hữu Hiệp đã đề nghị đổi tên Sài Gòn thành TP.HCM.
Vòng xoay Lăng Cha cả - Ngã tư Bảy Hiền. Nguồn ảnh: Corbis.
Sau đó, phải trải qua cuộc chiến kéo dài mấy chục năm, tháng 4 năm 1975 mới giải phóng được Sài Gòn, giải phóng được miền Nam. Sau khi đất nước thống nhất, tại Hội nghị Hiệp thương giữa hai miền ở Dinh Độc Lập, đã thống nhất để thành phố Sài Gòn mang tên Bác kính yêu. Ý kiến này được Quốc hội chính thức thông qua vào ngày 2/7/1976.
“Quyết định này là một cột mốc, là dấu ấn lịch sử, tạo động lực to lớn cho thành phố và đáp ứng đầy đủ yêu cầu tình cảm của nhân dân Sài Gòn nói riêng và nhân dân cả nước nói chung”, GS Trình Quang Phú nhận định.
Nhìn lại hành trình 50 năm xây dựng và phát triển, TP.HCM không chỉ được biết đến là đầu tàu kinh tế của cả nước mà còn là nơi khởi nguồn của nhiều tư duy đổi mới và những quyết sách mang tính đột phá. Trong những thời điểm khó khăn nhất, chính tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung đã giúp Thành phố tìm ra lối đi riêng, tạo động lực cho sự phát triển của địa phương và góp phần thúc đẩy tiến trình đổi mới của đất nước.
Dinh Độc Lập, nguồn ảnh: Borries Gallasch, lưu tại Hội trường Thống Nhất.
Sau ngày giải phóng, TP.HCM bước vào giai đoạn đầy thử thách. Trong khoảng 10 năm đầu (1975-1985), nền kinh tế TP.HCM vận hành trong bối cảnh cơ chế tập trung, bao cấp với nhiều khó khăn về sản xuất, lưu thông hàng hóa và đời sống dân sinh. Hàng triệu người dân phải đối mặt với tình trạng thiếu lương thực, thực phẩm, nhiều gia đình phải ăn cơm độn để duy trì cuộc sống.
Trước thực tế đó, lãnh đạo Thành ủy Sài Gòn - Gia Định và sau này là TP.HCM đã chủ động tìm kiếm những giải pháp từ thực tiễn. Những tổ công tác được cử xuống tận các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long thu mua lương thực theo hình thức “giá thỏa thuận”, vượt qua những rào cản của cơ chế “ngăn sông cấm chợ” lúc bấy giờ để đưa gạo về phục vụ người dân thành phố. Từ thực tiễn ấy đã xuất hiện hình ảnh “hạt gạo công Ba Thi”, trở thành biểu tượng cho tinh thần năng động, sáng tạo và dám chịu trách nhiệm vì cuộc sống của nhân dân.
Các chiến sĩ Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam trước tòa nhà Quốc hội của chính quyền Sài Gòn ngày 30/4/1975 (ảnh tư liệu).
Không chỉ giải quyết bài toán lương thực, Thành ủy TP.HCM còn tổ chức nhiều cuộc khảo sát thực tế, nghiên cứu cơ sở sản xuất, lắng nghe những sáng kiến từ doanh nghiệp và người lao động. Nhiều mô hình sản xuất, kinh doanh khi đó bị xem là “xé rào”, nhưng thực tế đã chứng minh tính hiệu quả, góp phần giải phóng sức sản xuất và tạo động lực phát triển kinh tế.
Đặc biệt, Thành ủy TP.HCM khóa đầu tiên đã ban hành nhiều chủ trương mang tính đột phá, khuyến khích phát huy tính chủ động, sáng tạo từ cơ sở, từng bước tháo gỡ những ràng buộc của cơ chế cũ. Chính những tìm tòi ấy đã tạo nên những tiền đề quan trọng cho công cuộc đổi mới của đất nước sau này.
Góc đường Hàm Nghi - Hồ Tùng Mậu (quận 1) năm 1986 (nguồn: nhiếp ảnh gia Tam Thái).
Dù còn nhiều khó khăn, trong giai đoạn 1975-1985, TP.HCM vẫn giữ vững ổn định chính trị - xã hội, từng bước hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục sản xuất và xây dựng nền tảng cho phát triển lâu dài. Đây cũng là thời kỳ hình thành rõ nét tinh thần “dám nghĩ, dám làm”, một trong những đặc trưng nổi bật của Thành phố mang tên Bác.
Cảnh xe cộ qua lại trên đường Quốc lộ 1 đi qua chợ Bà Hom (quận Bình Tân) vào năm 1988 (nguồn: nhiếp ảnh gia Tam Thái).
Hai cô gái nâng niu cành đào, được cán bộ đi công tác, kết hợp mang từ Hà Nội vào bằng tàu lửa, năm 1984. Họ ngồi giữa chợ hoa Nguyễn Huệ (quận 1) chờ khách mua, phía sau là những người đi xe đạp (nguồn: nhiếp ảnh gia Tam Thái).
Khi đất nước thực hiện đường lối đổi mới từ năm 1986, TP.HCM nhanh chóng trở thành địa phương đi đầu trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nếu trong giai đoạn 1975-1985, GRDP của TP.HCM chỉ tăng bình quân khoảng 2,7%/năm thì giai đoạn 1986-2010 đạt mức tăng trưởng bình quân khoảng 10,5%/năm. Đây là mức tăng trưởng thuộc nhóm cao trong khu vực và là một trong số ít đô thị trên thế giới duy trì tốc độ tăng trưởng hai con số trong thời gian dài.
Bước sang thế kỷ XXI, vai trò đầu tàu kinh tế của TP.HCM tiếp tục được khẳng định. Giai đoạn 2001-2005, kinh tế thành phố tăng trưởng bình quân 11%/năm; giai đoạn 2006-2010 đạt 11,2%/năm, cao gấp khoảng 1,5 lần mức tăng trưởng bình quân của cả nước. Quy mô kinh tế không ngừng mở rộng, đóng góp tỷ trọng lớn vào GDP quốc gia và nguồn thu ngân sách Trung ương.
Bảo tàng Hồ Chí Minh ngày nay, hiện đang trong quá trình cải tạo, chỉnh trang.
Cùng với tăng trưởng kinh tế, TP.HCM còn là nơi tiên phong triển khai nhiều mô hình phát triển mới như: khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung, khu công nghệ cao, trung tâm tài chính - thương mại hiện đại. Nhiều chủ trương, cơ chế được thử nghiệm từ thực tiễn thành phố đã trở thành cơ sở để Trung ương nghiên cứu, hoàn thiện chính sách phát triển trên phạm vi cả nước.
Tinh thần tiên phong ấy tiếp tục được thể hiện trong những năm gần đây thông qua việc thành phố chủ động đề xuất các cơ chế, chính sách đặc thù. Nghị quyết 54/2017 của Quốc hội lần đầu trao cho TP.HCM một số cơ chế đặc thù về tài chính - ngân sách, quản lý đất đai và bộ máy. Tiếp đó, Nghị quyết 98/2023 mở rộng đáng kể không gian thể chế, tạo điều kiện để thành phố thí điểm nhiều chính sách mới trong đầu tư, tài chính, khoa học - công nghệ và quản lý đô thị. Gần đây nhất, Nghị quyết 260/2025 tiếp tục tạo thêm động lực để TP.HCM phát huy vai trò cực tăng trưởng của cả nước.
TP.HCM "thay da đổi thịt" qua từng ngày.
Không chỉ tiên phong trong phát triển kinh tế, TP.HCM còn là nơi khởi nguồn nhiều chương trình an sinh xã hội có sức lan tỏa lớn. Đầu những năm 1990, khi gần 122.000 hộ dân, tương đương khoảng 17% tổng số hộ dân thành phố còn thuộc diện nghèo, TP.HCM đã triển khai chương trình xóa đói giảm nghèo với cách làm sáng tạo từ cơ sở.
Mô hình đầu tiên được thực hiện tại ấp Cây Sộp, xã Tân An Hội, huyện Củ Chi (cũ), sau đó nhanh chóng được nhân rộng ra nhiều địa phương khác. Từ chương trình xóa đói giảm nghèo, TP.HCM từng bước hình thành hệ thống chính sách giảm nghèo bền vững, hỗ trợ sinh kế, đào tạo nghề và tạo việc làm cho người dân. Sau hơn 30 năm triển khai, Thành phố trở thành điểm sáng của cả nước trong công tác giảm nghèo, với chuẩn nghèo luôn ở mức cao hơn nhiều lần so với chuẩn nghèo quốc gia.
Nhìn lại chặng đường nửa thế kỷ, từ những quyết sách “xé rào” để giải quyết khó khăn trước mắt đến những cơ chế đột phá nhằm tạo động lực phát triển lâu dài, TP.HCM luôn thể hiện bản lĩnh của một đô thị tiên phong. Chính tinh thần đổi mới, dám mở đường cho những điều mới mẻ đã giúp thành phố không ngừng bứt phá, giữ vững vai trò đầu tàu kinh tế và tiếp tục đóng góp quan trọng vào sự phát triển chung của đất nước.
Bài 2: Vang vọng một thời tuổi trẻ Sài Gòn - Gia Định anh hùng.
Bình luận của bạn đã được gửi và sẽ hiển thị sau khi được duyệt bởi ban biên tập.
Ban biên tập giữ quyền biên tập nội dung bình luận để phù hợp với qui định nội dung của Báo.