Tin văn hóa

Bài cuối: Thể chế mở đường xây thương hiệu văn hóa quốc gia

Văn Thân 19/07/2026 07:00

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị, ngày 7/1/2026 nhấn mạnh: “Văn hóa phải đi trước soi đường, thấm vào từng quyết sách phát triển, đề cao giá trị nhân văn, chuẩn mực đạo đức xã hội. Xây dựng và phát triển văn hóa phải thực sự trở thành nền tảng vững chắc, sức mạnh nội sinh của dân tộc và hệ điều tiết cho phát triển nhanh, bền vững đất nước, hướng đến mục tiêu 100 năm thành lập Đảng và 100 năm thành lập Nước”.

Quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới

Hiện nay, mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa được xác định vừa là nền tảng tinh thần, vừa là nguồn lực kinh tế, vừa là “sức mạnh mềm” của quốc gia. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã khẳng định: “Văn hóa phải đứng ở vị trí dẫn đường, là nền tảng định hình chất lượng con người và chất lượng quốc gia”.

8-17319058674841948629964_watermarked.jpg
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại Phiên họp thứ hai Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam

Nghị quyết số 80-NQ/TW đã mở ra kỷ nguyên mới cho văn hóa trở thành nguồn lực kinh tế, để góp phần bảo vệ và phát triển đất nước. “Sức mạnh mềm” của quốc gia vì thế luôn nhận được được sự quan tâm đặc biệt từ Đảng, Nhà nước và sự vào cuộc mạnh mẽ của các cấp, các ngành, địa phương và của toàn xã hội. Trong vài năm trở lại đây, công nghiệp văn hóa đã có sự chuyển biến mạnh mẽ từ chính sách đến thực tiễn.

Đầu tiên phải kể đến là việc thể chế hoá đầy đủ, đồng bộ và tổ chức thực hiện hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng về văn hoá; tập trung xây dựng các luật về hoạt động nghệ thuật, văn học, bản quyền tác giả, công nghiệp văn hoá... theo hướng kiến tạo, khơi thông nguồn lực cho phát triển văn hoá;

Sửa đổi, bổ sung, thay thế các văn bản quy phạm pháp luật còn bất cập, chồng chéo; tháo gỡ các điểm nghẽn, nút thắt về thể chế, đồng thời bổ sung khung pháp lý giải quyết những vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn;

Bảo đảm tính khả thi, đồng bộ, liên thông giữa pháp luật về văn hoá với pháp luật liên quan; giữa chính sách văn hoá với các chính sách về giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế tư nhân; hoàn thiện thể chế, chính sách hội nhập quốc tế về văn hoá phù hợp với thông lệ và cam kết quốc tế.

Tiếp đến là xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện Bộ chỉ số văn hoá quốc gia, Bộ chỉ số thống kê về đóng góp của các ngành công nghiệp văn hoá đối với phát triển kinh tế theo chuẩn mực quốc tế; xây dựng cơ chế, chính sách đột phá phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hoá;

Hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp văn hoá tiếp cận và ứng dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất nội dung số, phát triển sản phẩm, dịch vụ văn hoá và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số; chính sách thu hút đầu tư từ các tập đoàn công nghệ lớn vào hạ tầng số và phát triển các giải pháp công nghệ cao cho văn hoá;

Thí điểm các mô hình kinh doanh văn hoá mới gắn với nền tảng số; khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư các cơ sở đào tạo và thiết chế văn hoá, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; có chính sách ưu đãi vượt trội về đất đai, miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực văn hoá, ưu tiên công nghiệp văn hoá, công nghiệp giải trí; thúc đẩy hợp tác công tư trong lĩnh vực văn hoá, triển khai mô hình lãnh đạo công - quản trị tư; đầu tư công - quản lý tư; đầu tư tư - sử dụng công đối với một số thiết chế văn hoá, thể thao;

Xây dựng cơ chế đặc thù trong phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng và phát huy tài năng văn hoá, nghệ thuật, thể thao; chú trọng các môn nghệ thuật truyền thống và thúc đẩy các loại hình nghệ thuật đương đại; có chính sách hỗ trợ sáng tạo văn hoá trong không gian số, môi trường số, xã hội số, kinh tế số.

Nhận định về vai trò của thể chế trong chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam, PGS TS Huỳnh Văn Tới cho biết: “Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9/6/2014, Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước được xem là nghị quyết đánh dấu bước ngoặt tư duy, đặt văn hóa ngang hàng với kinh tế, chính trị, coi là nền tảng tinh thần và động lực phát triển.

the-che-mo-duong-thuong-hieu-van-hoa-2(1).jpg
Nhiều địa phương đã tổ chức thực hiện hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng về văn hoá và du lịch.

Đến Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 7/1/2026, của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam được xem là sự bổ sung thêm những quyết sách lớn của Đảng, được hình thành trên cơ sở tổng kết sâu sắc thực tiễn và phát triển tư duy lý luận trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, nhằm củng cố “nội lực tinh thần” quốc gia. Đây là dấu mốc chiến lược, khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh và trụ cột bền vững, đặt ngang tầm với chính trị, kinh tế”.

Đặc biệt, một trong những mục tiêu quan trọng mà Nghị quyết số 80-NQ/TW xác lập đến năm 2030, đó là: Đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp công nghiệp văn hóa, nghệ thuật sáng tạo; xây dựng một số tập đoàn công nghiệp văn hóa, cụm, khu công nghiệp sáng tạo, tổ hợp sáng tạo văn hóa tầm cỡ quốc tế dựa trên nền tảng công nghệ cao và các mô hình kinh doanh đổi mới sáng tạo.

Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam trở thành một trong những trung tâm công nghiệp văn hóa; trong đó công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo thực sự trở thành trụ cột của phát triển bền vững, đóng góp thiết thực cho tăng trưởng và hình ảnh quốc gia.

Khẳng định vị thế quốc gia

Đất nước ta đang bước vào một giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cao về chất lượng tăng trưởng, về năng lực cạnh tranh và về khẳng định vị thế quốc gia. Trong dòng chảy ấy, văn hóa không chỉ được nhìn nhận như một lĩnh vực mang tính bồi đắp tinh thần, mà đang ngày càng khẳng định vai trò là nguồn lực nội sinh quan trọng, là “sức mạnh mềm” của quốc gia.

nghi-quyet-80-cong-nghiep-van-hoa-6(1).png
Văn hóa ngày càng khẳng định vai trò là nguồn lực nội sinh quan trọng, là “sức mạnh mềm” của quốc gia.

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nghị quyết số 80 NQ/TW, cùng các chương trình hành động của Chính phủ và của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã xác lập một cách rõ ràng vị trí của văn hóa trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước. Đặc biệt, công nghiệp văn hóa được xác định là một trong những hướng đi quan trọng để chuyển hoá tiềm năng văn hóa thành nguồn lực phát triển, từng bước trở thành ngành kinh tế có đóng góp đáng kể vào GDP và nâng cao hình ảnh quốc gia trên trường quốc tế.

Điểm mới căn bản của Nghị quyết số 80 NQ/TW không chỉ nằm ở việc khẳng định tầm quan trọng của văn hóa, mà còn ở cách tiếp cận phát triển văn hóa trong mối quan hệ chặt chẽ với kinh tế, công nghệ và thị trường. Công nghiệp văn hóa vì vậy không thể hiểu đơn giản là sự gia tăng số lượng sản phẩm văn hóa, mà phải được nhìn nhận như một hệ sinh thái phát triển, nơi các yếu tố sáng tạo, công nghệ, vốn, thị trường và quản trị cùng tương tác để tạo ra giá trị mới.

Ở góc độ này, cần nhấn mạnh rằng phát triển công nghiệp văn hóa không phải là thương mại hoá giản đơn các giá trị tinh thần, càng không phải là đánh đổi bản sắc văn hóa để chạy theo thị hiếu nhất thời. Trái lại, bản chất của công nghiệp văn hóa là nâng tầm giá trị văn hóa thông qua sáng tạo và công nghệ, làm cho những giá trị truyền thống được “tái sinh” trong những hình thức mới, phù hợp với đời sống đương đại, có khả năng lan toả rộng rãi và bền vững.

Khi một sản phẩm văn hóa vừa giữ được hồn cốt dân tộc, vừa đáp ứng nhu cầu thị trường, vừa có khả năng cạnh tranh quốc tế, thì khi đó văn hóa mới thực sự trở thành nguồn lực phát triển. Từ nhận thức đó, vấn đề đặt ra là phải chuyển mạnh từ tư duy “quản lý văn hóa” sang tư duy “kiến tạo phát triển công nghiệp văn hóa”.

Điều này đòi hỏi vai trò kiến tạo thể chế của Nhà nước không chỉ dừng lại ở việc đưa ra chủ trương, ban hành quy định, mà phải chủ động tạo dựng môi trường, cơ chế, điều kiện để các chủ thể sáng tạo phát triển. Đồng thời, công nghiệp văn hóa cũng không thể là việc riêng của ngành văn hóa, mà phải trở thành nhiệm vụ liên ngành, gắn với phát triển kinh tế, du lịch, đô thị, truyền thông và chiến lược thương hiệu quốc gia.

Trong suốt tiến trình phát triển đất nước, văn hóa luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm và khẳng định vai trò là nền tảng tinh thần của xã hội và động lực quan trọng thúc đẩy đất nước phát triển nhanh, bền vững.

the-che-mo-duong-thuong-hieu-van-hoa-5-37d8226ef41a0a79356b7f6e3b3b6698.jpg
Việt Nam đẩy mạnh phát triển thương hiệu văn hóa quốc gia trong mối quan hệ chặt chẽ với kinh tế, công nghệ và thị trường.

Đánh giá về vai trò của Nhà nước, PGS TS Nguyễn Thị Thu Phương nhìn nhận, Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030 theo Quyết định số 1909/QĐ-TTg năm 2021 từng bước hình thành khung định hướng phát triển công nghiệp văn hóa trong nền kinh tế sáng tạo.

Giai đoạn từ năm 2019 đến 2021, đại dịch Covid-19 cùng với sự phát triển nhanh của chuyển đổi số, nền tảng số và các hình thức sáng tạo nội dung mới đã tạo ra những thay đổi mạnh mẽ đối với môi trường phát triển công nghiệp văn hóa. Điều này đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa theo hướng phù hợp hơn với bối cảnh phát triển mới.

Quyết định số 2486/QĐ-TTg ngày 14/11/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 tiếp tục định hướng phát triển công nghiệp văn hóa theo hướng đáp ứng yêu cầu mới của chuyển đổi số, phát triển thị trường văn hóa, nâng cao đóng góp của công nghiệp văn hóa đối với tăng trưởng kinh tế.

Trên nền tảng đó, Nghị quyết số 80-NQ/TW tiếp tục mở rộng không gian phát triển văn hóa trong giai đoạn mới, gắn phát triển văn hóa với đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển “sức mạnh mềm” quốc gia. Sau Nghị quyết số 80-NQ/TW, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 155/NQ-CP ngày 19/6/2026 sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 24/2/2026 và Nghị quyết số: 28/2026/QH16 của Quốc hội (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026) tiếp tục tạo cơ sở cho việc hoàn thiện cơ chế triển khai phát triển công nghiệp văn hóa trong thời kỳ mới.

Như vậy, Nghị quyết số 80-NQ/TW đã mở ra một tư duy mới về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, vừa được thực hiện trên mặt trận chính trị và tư tưởng, vừa được triển khai bằng sức mạnh văn hóa. Khi hệ giá trị quốc gia được củng cố, môi trường văn hóa được lành mạnh hóa, công nghiệp văn hóa đạt nhiều thành tựu thì nền tảng tư tưởng của Đảng sẽ có thêm “thành lũy mềm” vững chắc trong kỷ nguyên số.

Văn Thân