Bài 3: “Thành lũy mềm” vững chắc trong kỷ nguyên số
Sức mạnh của văn hóa có thể đến từ mọi tầng lớp nhân dân, mở ra tiềm năng to lớn về ý tưởng sáng tạo cho ngành công nghiệp văn hóa. Việc đào tạo nguồn nhân lực là vô cùng quan trọng nhằm xây dựng một lực lượng lao động có tư duy hệ thống về công nghiệp văn hóa với các yếu tố văn hóa, sáng tạo, công nghệ, thị trường.
Hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp từ văn hóa
Tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Liên (Học viện Chính trị khu vực II) cho rằng, để có giải pháp thúc đẩy hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp công nghiệp văn hóa, Việt Nam cần tập trung xây dựng, phát triển văn hoá mang bản sắc Việt Nam, đa dạng, hiện đại, có sức mạnh dẫn dắt, thúc đẩy xã hội phát triển bền vững.
.jpg)
Doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp văn hoá, công nghiệp sáng tạo và giải trí là động lực then chốt thúc đẩy đổi mới sáng tạo văn hoá. Người dân vừa là chủ thể vừa là trung tâm của đổi mới sáng tạo văn hoá, đồng thời thụ hưởng trực tiếp giá trị và thành quả của văn hoá, tạo điều kiện hình thành tầng lớp công chúng văn hoá hiện đại, gắn với môi trường số và đổi mới sáng tạo;
Hình thành các không gian sáng tạo nội dung số, môi trường sáng tạo cho cộng đồng các doanh nghiệp và tổ chức sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ văn hoá thông qua các hoạt động kết nối và trao đổi; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào sản phẩm, dịch vụ văn hoá số; gắn kết văn hoá với du lịch, thương mại và công nghệ, hình thành chuỗi giá trị;
Xây dựng các trung tâm đổi mới sáng tạo văn hoá - sáng tạo nội dung số; định hướng xây dựng thị trường sản phẩm sáng tạo liên khu vực, hình thành các “trung tâm sáng tạo vùng” gắn với đô thị lớn, khu du lịch trọng điểm và cộng đồng sáng tạo nhằm góp phần nâng cao khả năng kết nối chuỗi giá trị sáng tạo trong nước và quốc tế;
Nhận diện đầy đủ và khai thác hiệu quả tài nguyên văn hoá; lấy di sản văn hoá là trung tâm và tài nguyên văn hoá số là thế mạnh, hướng đến việc bảo tồn, phát huy, phát triển bền vững các giá trị văn hoá; tạo điều kiện thuận lợi để người dân tham gia sản xuất, tiêu dùng, phản biện và chia sẻ lợi ích từ tài nguyên văn hoá;
Đầu tư bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị di sản văn hoá lồng ghép vào mục tiêu phát triển bền vững về môi trường, văn hoá, kinh tế, xã hội gắn với sinh kế cộng đồng, hình thành một số đô thị di sản, phát triển kinh tế di sản, góp phần hoàn thiện hệ sinh thái văn hoá; trọng dụng, tôn vinh, giải phóng sức sáng tạo, tạo môi trường thuận lợi để các chuyên gia, trí thức, văn nghệ sĩ tài năng và học sinh, sinh viên có năng khiếu vượt trội trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật được bồi dưỡng, rèn luyện, sáng tạo, cống hiến, phát triển.
Năm nhóm giải pháp hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp công nghiệp văn hóa được đề xuất - từ hoàn thiện thể chế, kiến tạo hạ tầng, khơi thông dòng vốn, đào tạo nhân lực đến phát triển thị trường - không phải là những mảnh ghép rời rạc, mà là một chỉnh thể thống nhất, có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau.
Thể chế là “bệ đỡ”, hạ tầng là “mảnh đất”, vốn là “dòng chảy”, nhân lực là “hạt nhân”, và thị trường là “không gian” màu mỡ. Thiếu bất kỳ một yếu tố nào, hệ sinh thái cũng khó có thể vận hành trơn tru và bền vững.

Điều quan trọng nhất là tinh thần đổi mới tư duy, dám nghĩ dám làm, coi trọng sáng tạo, đề cao giá trị văn hóa và khát vọng vươn lên phải thấm nhuần trong từng chính sách, từng hành động của các chủ thể, từ cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư, đến các nhà sáng tạo trẻ. Quá trình phát triển của mỗi quốc gia dân tộc luôn gắn với các nguồn vốn quan trọng như: nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, tài chính, khoa học công nghệ…
Các startup (công ty khởi nghiệp) có thể học hỏi kinh nghiệm thành công từ Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc nhưng không nên sao chép máy móc, mà phải có sự chọn lọc và sáng tạo để phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và bản sắc riêng của Việt Nam.
Đối với công nghiệp văn hóa, nguồn vốn về con người lại càng trở nên quan trọng, bởi lĩnh vực này là sự chuyển hoá những giá trị văn hóa, nhân văn thành những giá trị kinh tế thông qua ý tưởng sáng tạo của con người. Chính vì vậy, việc đào tạo nguồn nhân lực trong các ngành công nghiệp văn hóa là một nhiệm vụ mang tính cấp thiết cả trước mắt và lâu dài.
Theo UNESCO, công nghiệp văn hóa là các ngành sản xuất ra những sản phẩm vật thể và phi vật thể về nghệ thuật và sáng tạo, có tiềm năng thúc đẩy việc tạo ra của cải và thu nhập thông qua việc khai thác những giá trị văn hóa và sản xuất những sản phẩm và dịch vụ dựa vào tri thức (kể cả những giá trị văn hóa hiện đại và truyền thống). Điểm chung nhất của các ngành công nghiệp văn hóa là nó sử dụng tính sáng tạo, tri thức văn hóa và bản quyền trí tuệ để sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ, cũng như nó mang giá trị văn hóa.
Sự ra đời của các ngành công nghiệp văn hóa có sự kết hợp giữa văn hóa, kinh tế và công nghệ đã mang đến những thay đổi tích cực trong quan niệm xã hội về vai trò của văn hóa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.
Các ngành công nghiệp văn hóa đã góp phần tạo nên sự cân bằng giữa kinh tế - văn hóa và con người, thúc đẩy phát triển bền vững ở nhiều quốc gia, khu vực. Bên cạnh giá trị kinh tế, công nghiệp văn hóa còn đóng vai trò quan trọng trong việc quảng bá hình ảnh thương hiệu đất nước, gia tăng “sức mạnh mềm” quốc gia.
Mỗi công dân sẽ là một “sứ giả” văn hóa
Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 7/1/2026 đã xác định: “Đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp văn hóa; hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp công nghiệp văn hóa, nghệ thuật sáng tạo. Xây dựng một số tập đoàn công nghiệp văn hóa, cụm, khu công nghiệp sáng tạo, tổ hợp sáng tạo văn hóa tầm cỡ quốc tế dựa trên nền tảng công nghệ cao và các mô hình kinh doanh đổi mới sáng tạo”.

Nghị quyết cũng khẳng định tầm quan trọng của việc xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, cán bộ cấp chiến lược, phát triển nguồn nhân lực văn hóa; chú trọng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, công chức, viên chức, người lao động, nhất là cán bộ chủ chốt và những người làm công tác văn hóa, nghệ thuật ở địa phương;
Phát triển mạng lưới chuyên gia trong và ngoài nước về văn hóa. Công nghiệp văn hóa không chỉ là cầu nối giữa truyền thống - hiện đại mà còn là động lực phát triển kinh tế và nâng cao vị thế quốc gia.
Nếu mỗi công dân đều là một “sứ giả” văn hóa, được đầu tư và phát triển đúng hướng thì đây sẽ là lĩnh vực đầy tiềm năng, góp phần đưa Việt Nam trở thành một quốc gia phát triển toàn diện, vừa giàu mạnh về kinh tế, vừa phong phú và có chiều sâu về văn hóa.
Theo Tiến sĩ Lê thị Hồng Quyên (Đại học Văn hóa TP.HCM), ở Việt Nam trong những năm gần đây, một số cơ sở giáo dục đã bắt đầu đưa nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực công nghiệp văn hóa vào chương trình đào tạo, từng bước hình thành hệ sinh thái sáng tạo trong bối cảnh chuyển đổi số. Nhìn một cách tổng thể ở các cơ sở đào tạo trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, có thể thấy hiện nay có hai mô hình chính trong đào tạo nguồn nhân lực công nghiệp văn hóa.
Mô hình thứ nhất là đào tạo nhân lực chuyên sâu một lĩnh vực thuộc công nghiệp văn hóa như: âm nhạc, mỹ thuật, điện ảnh, sân khấu, nghệ thuật biểu diễn; đây là hướng đi gắn với các cơ sở đào tạo đặc thù như: nhạc viện, sân khấu, điện ảnh, mỹ thuật, múa…
Mô hình thứ hai sẽ đào tạo nhân lực công nghiệp văn hóa trên cơ sở quan điểm tiếp cận liên ngành. Có thể kể đến các cơ sở đào tạo như: Trường Đại học Văn hóa TP.HCM đào tạo chuyên ngành Công nghiệp văn hóa, thuộc ngành Văn hóa học; Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đào tạo chuyên ngành Phát triển công nghiệp văn hóa, thuộc ngành Quản lý văn hóa.
Giảng viên khi đó sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng nghiên cứu, giúp sinh viên tiếp cận và đảm nhận những công việc phù hợp với chuyên môn và năng lực. Đồng thời, các giảng viên có thể cùng sinh viên nghiên cứu khoa học từ các dự án lớn, vừa và nhỏ, phù hợp với khả năng của sinh viên, từ đó tổ chức cho cá nhân hoặc nhóm sinh viên tạo ra các tác phẩm đáp ứng yêu cầu thực tế của thời đại.

Phát triển nguồn nhân lực là điều kiện tiên quyết để xây dựng một nền công nghiệp văn hóa hiện đại và bền vững; trong đó chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, cán bộ cấp chiến lược, chú trọng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, công chức, viên chức, người lao động, nhất là cán bộ chủ chốt và những người làm công tác văn hoá, nghệ thuật ở địa phương.
Chỉ khi xây dựng được một đội ngũ nhân lực vừa có năng lực sáng tạo, vừa có tư duy công nghiệp và khả năng thích ứng với công nghệ, Việt Nam mới có thể khai thác hiệu quả tiềm năng to lớn của công nghiệp văn hóa, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao vị thế quốc gia…
“Kim chỉ nam cho các giải pháp về phát triển nguồn nhân lực công nghiệp văn hóa hiện nay chính là chú trọng xây dựng và phát triển các viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo văn hóa theo mô hình tiên tiến, hiện đại; phát triển chương trình đào tạo đặc thù về văn hóa, nghệ thuật, công nghiệp sáng tạo và quản trị dữ liệu văn hóa;
Cho phép đào tạo tích hợp phổ thông - nghệ thuật - công nghệ để hình thành đội ngũ nhân lực văn hóa - nghệ thuật - công nghệ chất lượng cao; tăng cường hợp tác quốc tế về đào tạo; tiếp tục gửi sinh viên, giảng viên, cán bộ đi đào tạo dài hạn, ngắn hạn về văn hóa, nghệ thuật ở các nước phát triển; chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao cho các ngành công nghiệp văn hóa, nhất là nguồn nhân lực chuyên sâu về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong văn hóa và đội ngũ sáng tạo nội dung số”, Tiến sĩ Lê thị Hồng Quyên đưa ra đề xuất.
Bài 4: Xây dựng hệ giá trị quốc gia bằng văn hóa