Bài 1: Cuộc chiến chống xâm lăng và hòa tan bản sắc văn hóa
Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 7/1/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam ra đời đã trở thành công cụ chiến lược phòng ngừa từ sớm, từ xa; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới.
Nghị Quyết 80-NQ/TW hàm chứa nhiều giá trị khoa học, phù hợp với xu hướng và bối cảnh hội nhập toàn cầu hóa, nhưng vẫn đủ “bản sắc” tự lực tự cường trước các âm mưu chống phá (cả từ bên ngoài lẫn bên trong); trong đó, đặc biệt nhấn mạnh việc phát triển công nghiệp văn hóa để nâng cao “sức mạnh mềm” của quốc gia.
Văn hóa trở thành cốt lõi của nền kinh tế sáng tạo
Chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa của Việt Nam sẽ tạo động lực tăng trưởng mới, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và bền vững. Nhưng kèm theo đó là mối họa từ các cuộc “xâm lăng văn hóa”, đe dọa đến an ninh quốc gia và tương lai của dân tộc.

Trên thế giới, khi kinh tế toàn cầu đang chuyển mạnh từ mô hình tăng trưởng dựa trên tài nguyên và lao động giá rẻ sang mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức, đổi mới sáng tạo và công nghệ, công nghiệp văn hóa ngày càng khẳng định vai trò là một cấu phần cốt lõi của nền kinh tế sáng tạo.
Giá trị của công nghiệp văn hóa không chỉ được tạo ra từ sản phẩm vật chất mà chủ yếu được hình thành từ ý tưởng sáng tạo, tài sản trí tuệ, nội dung số, thương hiệu và khả năng kết nối cảm xúc, bản sắc văn hóa với thị trường.
Khác với các ngành kinh tế truyền thống, công nghiệp văn hóa có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao trên các nền tảng, công nghệ và dữ liệu. Đây là lĩnh vực có tính lan tỏa mạnh, tác động trực tiếp đến nhiều ngành khác như: du lịch, thương mại điện tử, truyền thông, công nghệ số, quảng cáo, giáo dục và dịch vụ giải trí…
Nói về tầm quan trọng của văn hóa, PGS TS Huỳnh Văn Tới (Thành viên Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Văn hóa TP.HCM) cho biết, công nghiệp văn hóa là xu thế toàn cầu, đang phát triển mạnh mẽ và trở thành lĩnh vực chiến lược của nhiều quốc gia. Đây không chỉ là ngành kinh tế dựa trên sáng tạo và công nghệ mà còn là công cụ xây dựng hình ảnh quốc gia, lan tỏa giá trị văn hóa và nâng cao vị thế quốc tế.
Quốc gia nào biết khai thác sáng tạo văn hóa, công nghệ và con người sẽ có lợi thế lớn trong cạnh tranh và phát triển bền vững ở thế kỷ XXI. Công nghiệp văn hóa trên thế giới đem lại cho Việt Nam nhiều bài học kinh nghiệm quý giá, cho thấy văn hóa có thể trở thành ngành kinh tế lớn, bản sắc dân tộc có thể trở thành lợi thế cạnh tranh, công nghệ số là chìa khóa phát triển công nghiệp văn hóa hiện đại.
Điển hình như tại Hàn Quốc, quốc gia này khai thác các yếu tố văn hóa truyền thống trong điện ảnh, âm nhạc và thời trang để tạo nên làn sóng Hallyu (làn sóng văn hóa Hàn Quốc); hay như Nhật Bản đã chuyển hóa mỹ học truyền thống thành anime (hoạt hình), thiết kế và du lịch văn hóa; còn Trung Quốc thì đẩy mạnh việc tái hiện văn hóa cổ truyền trên các nền tảng số và công nghiệp giải trí...

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”. Thế nên, văn hóa không chỉ giữ vai trò định hướng về mặt tinh thần, mà còn trở thành nguồn lực trực tiếp tham gia vào quá trình phát triển kinh tế và tái cấu trúc mô hình tăng trưởng.
Đặc biệt, trong nền kinh tế số, tri thức, sáng tạo, bản quyền, dữ liệu và tài sản trí tuệ văn hóa đang trở thành yếu tố cốt lõi tạo ra lợi thế cạnh tranh quốc gia. Những quốc gia sở hữu hệ sinh thái công nghiệp văn hóa phát triển mạnh sẽ có khả năng lan tỏa giá trị, mở rộng không gian kinh tế và khẳng định thương hiệu văn hóa quốc gia.
Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã đặt công nghiệp văn hóa vào vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển quốc gia thời kỳ mới. Đây là bước phát triển quan trọng về tư duy quản lý nhà nước khi chuyển từ tiếp cận “hành chính, sự nghiệp” sang tiếp cận “kinh tế sáng tạo, thị trường văn hóa”.
Công nghiệp văn hóa không chỉ bao gồm các hoạt động sáng tạo nghệ thuật truyền thống mà còn mở rộng sang nhiều lĩnh vực mới như: điện ảnh, âm nhạc số, trò chơi điện tử, thiết kế sáng tạo, quảng cáo, nội dung số, mỹ thuật, du lịch văn hóa, nghệ thuật biểu diễn.
Theo định hướng Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045 sẽ có 10 ngành công nghiệp văn hóa trọng điểm, bao gồm: Điện ảnh; Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và triển lãm; Nghệ thuật biểu diễn; Phần mềm và trò chơi giải trí; Quảng cáo; Thủ công mỹ nghệ; Du lịch văn hóa; Thiết kế sáng tạo; Truyền hình và phát thanh; Xuất bản.
Những năm gần đây, các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam có bước phát triển tích cực, từng bước hình thành hệ sinh thái sáng tạo đa dạng với nhiều doanh nghiệp, sản phẩm văn hóa số và mô hình kinh doanh mới. Giai đoạn 2018 - 2022, ngành có tăng trưởng nhưng chưa ổn định, tỷ trọng đóng góp GDP tăng từ khoảng 3,6% lên trên 4%.
Giai đoạn 2023 - 2025 ghi nhận sự phục hồi tích cực sau đại dịch, đặc biệt ở các lĩnh vực như: du lịch văn hóa, nghệ thuật biểu diễn và nội dung số, dù sự phục hồi chưa đồng đều.
Năm 2023, giá trị gia tăng của công nghiệp văn hóa đạt 513,7 nghìn tỷ đồng, đóng góp 4,98% GDP; năm 2024 đạt 586,3 nghìn tỷ đồng, đóng góp 5,09% GDP, tăng trưởng 7,48% so với năm trước.
Việt Nam trong dòng chảy văn hóa toàn cầu
Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới, với mục tiêu vươn mình cùng nhiều lợi thế về thể chế, tổ chức bộ máy tinh gọn, niềm tin xã hội lên cao, thị trường minh bạch và cảm hứng khởi nghiệp sáng tạo phủ rộng, bao trùm.
Dù vậy, nhiều thế lực vẫn lợi dụng văn hóa để thực hiện thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, xét lại lịch sử, âm mưu bôi nhọ các lãnh tụ, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam… hòng làm xói mòn lòng tin của các tầng lớp nhân dân. Nghị quyết 80-NQ/TW ra đời chính là lời khẳng định về sách lược “hòa nhập, không hòa tan”.

Đối với Việt Nam, tiềm năng phát triển công nghiệp văn hóa là rất lớn khi sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa đa dạng, kho tàng di sản phong phú, lực lượng lao động trẻ, khả năng tiếp cận nhanh với công nghệ số và thị trường tiêu dùng nội dung số đang tăng trưởng mạnh mẽ.
Những lĩnh vực như: điện ảnh, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn, thiết kế sáng tạo, trò chơi điện tử, thời trang, quảng cáo và du lịch văn hóa đang từng bước hình thành hệ sinh thái sáng tạo mới, tạo việc làm cho hàng triệu lao động và đóng góp ngày càng rõ nét vào tăng trưởng kinh tế cho nhiều tỉnh, thành phố như: TP.HCM, Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Quảng Ninh, Ninh Bình, Khánh Hòa, Lâm Đồng, An Giang...
Đặc biệt, trong môi trường số, ranh giới giữa sáng tạo văn hóa và công nghệ ngày càng được thu hẹp. Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Blockchain (chuỗi khối), thực tế ảo, thực tế tăng cường và các nền tảng phân phối nội dung xuyên biên giới đang tạo ra phương thức sản xuất và tiêu dùng văn hóa hoàn toàn mới. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải có chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa gắn với đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và xây dựng nền kinh tế tri thức.
Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã đặt ra những mục tiêu rất cụ thể và có thể đo lường được.
Theo đó, đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa phấn đấu tăng trưởng bình quân khoảng 10%/năm, đóng góp khoảng 7% GDP; lực lượng lao động chiếm khoảng 6% tổng lao động; xuất khẩu duy trì tốc độ tăng trưởng khoảng 7%/năm và hình thành từ 5 đến 10 thương hiệu quốc gia trong các lĩnh vực trọng điểm.
Văn hóa là nguồn lực nội sinh quan trọng, với điểm nhấn là góp phần tạo dựng niềm tin xã hội, định hướng hệ giá trị quốc gia. Nghị quyết 80-NQ/TW đã xác định rõ các nhiệm vụ như: xây dựng hạ tầng văn hóa số, phát triển nền tảng phân phối nội dung số, số hoá di sản, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trong sản xuất và quản lý văn hóa... Đây là nền tảng để công nghiệp văn hóa Việt Nam có thể bứt phá.

Đánh giá về cơ hội và những thách thức, nhà nghiên cứu văn hóa Bùi Thị Hoàng Phúc bày tỏ, việc xây dựng chủ quyền văn hóa số, phát triển nền tảng số Việt Nam, nâng cao năng lực số của đội ngũ sáng tạo và bảo đảm an ninh văn hóa trên môi trường mạng là đặc biệt quan trọng.
Cạnh tranh toàn cầu trong lĩnh vực văn hóa ngày càng quyết liệt, cá lớn thường nuốt cá bé. Các nền tảng quốc tế như: Netflix, Youtube, Tiktok, Spotify đang chi phối mạnh, chiếm lĩnh thị trường nội dung số, thị hiếu người dùng, quảng cáo và doanh thu văn hóa. Doanh nghiệp Việt Nam phần lớn đều nhỏ yếu, gặp khó khăn trong cạnh tranh về công nghệ, dữ liệu, tài chính và thị trường toàn cầu.
Nếu không làm chủ công nghệ, không xây dựng được nền tảng nội dung trong nước, không bảo vệ được bản quyền và dữ liệu, Việt Nam sẽ rơi vào tình trạng phụ thuộc, đối diện với nguy cơ “hoà tan bản sắc” trong dòng chảy toàn cầu.
Xu hướng phát triển mạng xã hội đã tạo điều kiện giao lưu văn hóa nhưng cũng khiến cho công chúng, nhất là giới trẻ sập bẫy “đồng hóa văn hóa”. Nó thể hiện ở tâm lý dễ dãi, sính ngoại, thích khám phá, thích thể hiện, thích sự thay đổi nhưng lại chưa đủ nhận thức để phân biệt tốt xấu đến từ bên ngoài; từ đó làm suy giảm các giá trị truyền thống của Việt Nam. Nếu không có chiến lược phù hợp, công nghiệp văn hóa có thể phát triển về thương mại nhưng lại nhạt về bản sắc dân tộc.
“Cần nhìn thẳng vào thực tế rằng công nghiệp văn hóa của chúng ta vẫn phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Trước hết là chính sách chưa đồng bộ, chưa theo kịp sự vận động nhanh của công nghệ và thị trường. Ở một số lĩnh vực, chưa tạo được môi trường thực sự thông thoáng để khuyến khích sáng tạo và đầu tư. Những vấn đề mới phát sinh trên môi trường số như quản lý nội dung, bảo vệ bản quyền, khai thác dữ liệu… còn thiếu khung pháp lý đầy đủ.
Bên cạnh đó là hạn chế về nguồn lực và hạ tầng, thiếu sự liên kết giữa các ngành. Công nghiệp văn hóa là lĩnh vực đòi hỏi đầu tư dài hạn, cần hệ thống thiết chế, không gian sáng tạo, trung tâm sản xuất, nền tảng phân phối, cơ sở dữ liệu và công cụ bảo vệ bản quyền. Trong khi đó, đầu tư cho lĩnh vực này còn phân tán, chưa tạo được những “cực tăng trưởng” rõ rệt”, bà Bùi Thị Hoàng Phúc đánh giá.
Bài 2: Cảnh giác với "chiếc bẫy" văn hóa ngoại lai