Đảm bảo quyền bào chữa sẽ góp phần bảo vệ công lý
Quyền bào chữa được Hiến pháp và pháp luật đảm bảo. Đặc biệt, tố tụng mới đã chuyển từ cơ chế cấp giấy chứng nhận bào chữa sang đăng ký bào chữa.
.jpg)
Trong một vụ án hình sự, quyền bào chữa là một trong những quyền cơ bản, quan trọng nhất của người bị buộc tội. Đây không chỉ là nguyên tắc pháp lý bảo đảm sự công bằng, khách quan trong quá trình giải quyết vụ án. Đây còn là cơ sở để hạn chế oan sai, bảo vệ quyền con người theo Hiến pháp và Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Theo Điều 16 của Bộ luật Tống tụng Hình sự năm 2015, người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuy nhiên, từ quy định đến thực tiễn áp dụng đôi khi vẫn còn một khoảng cách đáng kể. Nhiều luật sư từng gặp tình huống phải đi lại nhiều lần để bổ sung hồ sơ, chờ xác nhận, chờ chuyển hồ sơ hoặc chờ cơ quan tiến hành tố tụng xem xét đăng ký bào chữa.
Trong phần lớn trường hợp, luật sư được cấp thông báo người bào chữa khá kịp thời. Tuy nhiên, vẫn còn một số vụ việc mà việc tiếp cận hồ sơ hoặc gặp người bị buộc tội kéo dài nhiều ngày, thậm chí nhiều tuần.
Đáng nói hơn, đây lại là giai đoạn quan trọng nhất của một vụ án hình sự. Bởi phần lớn chứng cứ buộc tội hoặc gỡ tội ban đầu đều được hình thành trong quá trình điều tra. Những lời khai đầu tiên, việc nhận dạng, đối chất, thực nghiệm điều tra hay các quyết định tố tụng quan trọng đều diễn ra ở giai đoạn này. Nếu luật sư không thể tham gia kịp thời thì quyền bào chữa có nguy cơ bị ảnh hưởng đáng kể.
Từ góc độ pháp lý, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 đã có bước tiến rất lớn khi chuyển từ cơ chế cấp giấy chứng nhận người bào chữa sang cơ chế đăng ký bào chữa (Điều 78 Bộ luật Tố tụng Hình sự). Đây được xem là một cuộc cải cách nhằm giảm bớt thủ tục hành chính và tạo điều kiện cho luật sư tham gia tố tụng sớm hơn.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, việc thực hiện thủ tục đăng ký bào chữa vẫn còn phát sinh những khó khăn nhất định trên thực tế. Luật sư có cảm giác mình đang đi “xin quyền” được hành nghề thay vì thực hiện một quyền tố tụng đã được pháp luật ghi nhận.
Mặc dù khoản 5, Điều 27 Luật Luật sư năm 2006 được sửa đổi bổ sung năm 2012 quy định: “Cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan nhà nước khác và tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho luật sư thực hiện quyền và nghĩa vụ của luật sư khi hành nghề, không được cản trở hoạt động hành nghề của luật sư”.
Đồng thời, Điều 16 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 nêu rõ: “Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa; Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật này”.
Thậm chí, để góp phần bảo vệ công lý, không làm oan người vô tội cũng như bỏ lọt tội phạm, Điều 74 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 quy định: “Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can. Trường hợp bắt, tạm giữ người thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc từ khi có quyết định tạm giữ”.
Bên cạnh đó, để làm sáng tỏ vụ án, vai trò của người bào chữa không kém phần quan trọng. Điều 26 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 nêu rõ: “Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc tội, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án”.
Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận rất rõ về quyền bào chữa. Cụ thể, khoản 4, Điều 31 Hiến pháp quy định: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”. Quyền này được khoản 7 Điều 103 Hiến pháp quy định: “Quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo đảm”.
Từ những ghi nhận trên, quyền bào chữa không chỉ là quyền của người bị buộc tội. Đây còn là một trong những bảo đảm quan trọng để hoạt động tố tụng được khách quan, công bằng và đúng pháp luật. Trong vụ án hình sự, người bào chữa được tham gia tố tụng kịp thời, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên được bảo đảm tốt hơn. Nó góp phần hạn chế oan, sai và bỏ lọt tội phạm.
Vì vậy, việc thực hiện đầy đủ và thống nhất các quy định về đăng ký bào chữa không chỉ là trách nhiệm pháp lý của cơ quan tiến hành tố tụng mà còn là yêu cầu cần thiết để nâng cao chất lượng tranh tụng, củng cố niềm tin của người dân vào hoạt động tư pháp và bảo vệ công lý theo đúng tinh thần tiến bộ, bình đẳng của Hiến pháp và pháp luật.