Khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn xử lý vật chứng theo quy định của Bộ Luật Tố tụng Hình sự
Xử lý vật chứng là một nội dung quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan. Mặc dù Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 đã có quy định, song thực tiễn áp dụng đã phát sinh nhiều khó khăn, vướng mắc.
Xử lý vật chứng được quy định tại Điều 89 và Điều 106 Bộ Luật Tố tụng Hình sự (TTHS), theo đó vật chứng trong vụ án hình sự là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết của tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm, tiền hoặc vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án.
Trong quá trình tiến hành tố tụng, Cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền có thể xử lý vật chứng dưới nhiều hình thức như: tịch thu, sung ngân sách Nhà nước; tịch thu, tiêu hủy hoặc trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp.
Nguyên tắc xử lý là phải bảo đảm đúng quy định pháp luật, không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án và thi hành án, đồng thời tôn trọng quyền sở hữu hợp pháp của cá nhân, tổ chức.
.jpg)
Quá trình nghiên cứu và thực tiễn xét xử, việc xử lý vật chứng còn gặp một số khó khăn, vướng mắc như sau:
Thứ nhất, chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp từ chối nhận lại vật chứng.
Thực tiễn xét xử cho thấy, có trường hợp chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đã được bồi thường thiệt hại hoặc vì lý do khác mà họ từ chối nhận lại tài sản thuộc quyền sở hữu của mình, thậm chí đề nghị Toà án giao vật chứng cho bị cáo hoặc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan của vụ án.
Tuy nhiên, Bộ Luật Tố tụng Hình sự không quy định việc xử lý vật chứng theo ý chí chuyển giao này. Đồng thời, việc ghi nhận quan hệ tặng cho tài sản thuộc lĩnh vực dân sự, không phải là đối tượng giải quyết chính trong vụ án hình sự nếu không có yêu cầu độc lập. Hội đồng xét xử có quyền ghi nhận quan hệ dân sự này trên cơ sở tự do, tự nguyện của hai bên nhưng không có căn cứ pháp luật để tịch thu, nộp ngân sách hay tịch thu tiêu hủy vật chứng dẫn đến vật chứng không xử lý được.
Ví dụ: Bị cáo trộm cắp chiếc điện thoại của bị hại bán được 5.000.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết. Quá trình điều tra, mẹ bị cáo đã bồi thường giá trị điện thoại bằng tiền cho bị hại. Đồng thời, cơ quan điều tra đã thu giữ được chiếc điện thoại đó. Tại phiên tòa, bị hại từ chối nhận lại chiếc điện thoại và đề nghị Hội đồng xét xử giao điện thoại cho mẹ của bị cáo, mẹ bị cáo đồng ý nhận điện thoại.
Theo quy định của Bộ Luật TTHS thì phải trả lại điện thoại này cho chủ sở hữu, tuy nhiên trong ví dụ này, chủ sở hữu không nhận lại mà đề nghị giao vật chứng cho mẹ bị cáo, vì bà đã đứng ra bồi thường xong. Trong trường hợp này, Hội đồng xét xử không có căn cứ pháp luật để xử lý vật chứng, đồng thời việc giao hay không giao vật chứng cho mẹ bị cáo hiện đang có những quan điểm khác nhau.
Thứ hai, vật chứng trong vụ án này đồng thời là vật chứng trong vụ án khác.
Trong một số trường hợp, vật chứng trong vụ án đang giải quyết lại là tài sản liên quan đến một vụ án khác. Hiện nay, Bộ Luật TTHS chưa có quy định cụ thể để xử lý đối với trường hợp này. Điều này dẫn đến thực trạng mỗi nơi áp dụng một cách khác nhau, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến việc giải quyết toàn diện các vụ án có liên quan.
Tác giả cho rằng, cơ quan tố tụng đang quản lý vật chứng, xét việc chuyển vật chứng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án thì ra quyết định chuyển vật chứng cho cơ quan tố tụng trong vụ án khác hoặc nếu xử lý vật chứng thì được thực hiện khi tất cả các vụ án liên quan được giải quyết.
Ví dụ: Bị cáo dùng xe mô tô đi cướp giật tài sản. Quá trình điều tra, bị cáo khai chiếc xe mô tô mua của người không biết tên tuổi, địa chỉ, tiến hành tra cứu vật chứng cơ quan tố tụng xác định được chiếc xe mô tô là vật chứng của vụ án trộm cắp tài sản đang xảy ra tại địa bàn tỉnh A. Trong trường hợp này, cơ quan tố tụng cần chuyển vật chứng cho cơ quan tố tụng đang giải quyết vụ án trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh A mà không tiến hành tịch thu, sung ngân sách nhà nước hoặc trường hợp xác định được chủ sở hữu hợp pháp thì trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.
.jpg)
Thứ ba, không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp
Thực tiễn còn phát sinh trường hợp không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp của vật chứng. Tuy nhiên, Bộ Luật TTHS chưa có quy định cụ thể về trình tự, thủ tục xử lý đối với trường hợp này dẫn đến việc áp dụng thiếu thống nhất.
Ví dụ: Trong vụ án đánh bạc, cơ quan điều tra thu giữ nhiều tài sản, trong đó có một số điện thoại di động và tiền mặt không xác định được chủ sở hữu cụ thể và các đối tượng liên quan không thừa nhận quyền sở hữu đối với các tài sản này.
Để giải quyết trường hợp trên, tác giả cho rằng cơ quan tố tụng phải đăng công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng để tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp theo quy định tại khoản 2 Điều 228 Bộ Luật Dân sự. Trường hợp tìm được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì trả lại cho họ nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án, không thuộc trường hợp bị tịch thu, sung ngân sách Nhà nước.
Trường hợp không tìm được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì trong bản án cần nêu rõ hết thời hạn, kể từ ngày đăng tin tìm chủ sở hữu, nếu chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp có yêu cầu thì giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự; hết thời hạn nêu trên, tài sản sẽ được sung ngân sách Nhà nước. Đối với những tài liệu, đồ vật không có giá trị hoặc không sử dụng được thì tịch thu và tiêu hủy.
Từ những vướng mắc nêu trên, để bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật, tác giả xin đề xuất những biện pháp sau:
Thứ nhất, bổ sung quy định về xử lý vật chứng trong trường hợp chủ sở hữu từ chối nhận tài sản, theo hướng cho phép Tòa án xem xét, ghi nhận sự thỏa thuận tự nguyện của các bên nếu không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.
Thứ hai, cần quy định cụ thể về xử lý vật chứng liên quan đến nhiều vụ án, trong đó xác định rõ cơ chế phối hợp và chuyển giao vật chứng giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.
Thứ ba, bổ sung quy định về trình tự, thủ tục xử lý vật chứng trong trường hợp không xác định được chủ sở hữu, bảo đảm có căn cứ pháp lý rõ ràng để áp dụng một cách thống nhất.