Tặng tờ vé số trước khi trúng giải có buộc hỏi ý kiến vợ, chồng?
Án lệ số 80/2025/AL được Hội đồng Thẩm phán TANDTC thông qua đã giải “bài toán” về tranh chấp tờ vé số mệnh giá 10.000 đồng trúng giả đặc biệt được chồng hoặc vợ tặng trước mở thưởng có buộc hỏi ý kiến của nhau?

Nội dung án lệ tập trung giải quyết tình huống người chồng tặng cho tài sản là tờ vé số mệnh giá 10.000 đồng, chưa mở thưởng, cho người khác mà không có sự đồng ý của vợ. Sau đó, tờ vé số trúng giải đặc biệt. Vấn đề đặt ra là tờ vé số chưa mở thưởng có phải là tài sản cần đăng ký quyền sở hữu và việc tặng cho có bắt buộc phải có sự đồng ý của người vợ hay không?
Vụ kiện được xét xử sơ thẩm bởi TAND huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long cũ. Theo hồ sơ, chiều 7/1/2021, trong lúc các công nhân đang làm việc, ông T, chủ cơ sở sản xuất bàn ghế inox, đã mua một số tờ vé số tặng công nhân tại xưởng. Ông nói, nếu trúng thưởng sẽ chia đều cho những công nhân có mặt trong ngày hôm đó, trước sự chứng kiến của nhiều người lao động.
Chiều cùng ngày, khi dò kết quả, bà D phát hiện tờ vé số được ông chủ tặng đã trúng giải đặc biệt, tổng giá trị 2 tỷ đồng. Sau khi trừ thuế thu nhập cá nhân 10%, số tiền thực lĩnh là 1,8 tỷ đồng.
Sau khi xác định đúng tờ vé số trúng thưởng, ông T cất vé số vào túi áo rồi dặn bà D im lặng, để ông đi lĩnh thưởng giúp. Ông hứa đến chiều 28 Tết, khi xưởng nghỉ làm, sẽ chia tiền cho công nhân vì nếu chia ngay thì mọi người sẽ nghỉ việc.
Tin tưởng lời ông chủ, bà D không yêu cầu trả lại tờ vé số. Tuy nhiên, thực tế ông T chỉ cho các công nhân tiền Tết mà không thực hiện việc chia tiền trúng vé số.
Cụ thể, sau khi trừ số tiền quà Tết 183 triệu đồng đã phát cho 18 công nhân, ông T giữ lại hơn 1,6 tỷ đồng. Bà D và một số công nhân sau đó khởi kiện, yêu cầu chia đều số tiền này, tương ứng mỗi người nhận 85 triệu đồng.
Tại tòa, ông T cho rằng, tờ vé số là của mình, do không có điện thoại thông minh để truy cập Internet nên đưa cho bà D dò kết quả hộ, không có việc tặng cho hay hứa hẹn chia thưởng. Sau khi phát hiện trúng giải, bà D đã mang vé số trả lại cho ông. Ngày hôm sau, ông lĩnh thưởng. Khi cho công nhân nghỉ Tết Nguyên đán, ông đã phát tiền quà Tết, và không ai thắc mắc việc chia tiền trúng vé số. Do đó, ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện.
Tòa sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của 18 công nhân, buộc ông T chia tiền trúng thưởng nhưng xác định ông chỉ có quyền định đoạt một nửa tờ vé số. Sau khi chia đều cho 19 phần, tòa buộc ông T trả cho mỗi công nhân 42,5 triệu đồng.
Cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện, xác định ông T có quyền định đoạt 100% tờ vé số và không cần sự đồng ý của vợ. Do đó, mỗi nguyên đơn được nhận 85 triệu đồng.
Bản án phúc thẩm sau đó bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, Viện trưởng VKSND cấp cao tại TP HCM cho rằng, ông T chỉ có quyền với 50% giá trị tờ vé số, một nửa còn lại thuộc về vợ ông.
Tháng 8/2023, TAND cấp cao tại TP HCM xét xử giám đốc thẩm và xác định, dù giao dịch giữa ông T và bà D là hợp đồng tặng cho tài sản hay hợp đồng gửi giữ tài sản (Điều 559 Bộ luật Dân sự), pháp luật cũng không bắt buộc phải lập thành văn bản. Việc giao kết bằng lời nói không vi phạm quy định về hình thức.
Do không có tài liệu, chứng cứ trực tiếp, tòa án căn cứ các chứng cứ khác để làm rõ sự thật khách quan. Hội đồng xét xử xác định, sau khi xảy ra sự kiện trúng thưởng, ông T đã thay đổi, di dời vị trí camera tại xưởng; không trực tiếp đi lĩnh thưởng mà giao cho người khác; đồng thời có lời khai mâu thuẫn về địa điểm lĩnh thưởng.
Bên cạnh đó, việc thưởng Tết cho công nhân cao hơn nhiều so với các năm trước và việc ông đồng ý trả thêm 200 triệu đồng tại phiên tòa sơ thẩm được đánh giá là "không bình thường".
Tòa án nhận định có đủ cơ sở xác định, ông T đã tặng vé số cho công nhân và đặt điều kiện nếu trúng thưởng thì chia đều. Tại thời điểm tặng, mệnh giá tờ vé số chỉ 10.000 đồng, là tài sản có giá trị nhỏ, không đáng kể so với chi tiêu hằng ngày, nên ông T có quyền tự ý định đoạt mà không cần sự đồng ý của vợ.
Theo HĐXX, trong vụ án này, phải xác định đối tượng của hợp đồng tặng cho tài sản giữa ông T và các nguyên đơn là tờ vé số chưa mở thưởng chứ không phải là tờ vé số trúng thưởng.
Khi tờ vé số trúng thưởng, nếu bà D vẫn là người cầm giữ thì có nghĩa vụ lĩnh thưởng và chia đều cho các nguyên đơn theo điều kiện đã giao kết với ông T.
Việc ông Tân đã cầm lại tờ vé số, đã lĩnh thưởng, thì phải có trách nhiệm hoàn trả lại số tiền trúng thưởng của tờ vé số cho các nguyên đơn, như Tòa án cấp phúc thẩm đã quyết định là đúng.
Do vậy, cấp giám đốc thẩm quyết định giữ nguyên án phúc thẩm, buộc ông T trả cho mỗi nguyên đơn thêm 85 triệu đồng.
Như vậy, từ nay trong các vụ tranh chấp tương tự, các tòa án cần áp dụng giải pháp của án lệ trên. Cụ thể, Tòa án phải xác định tờ vé số chưa mở thưởng được tặng cho là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu. Và việc tặng cho tài sản không cần sự đồng ý của người vợ.
Bản án này không chỉ giải quyết dứt điểm một vụ tranh chấp cụ thể mà còn thiết lập một tiêu chuẩn pháp lý cho các trường hợp tương tự trong tương lai, khẳng định những tài sản có giá trị nhỏ như tờ vé số chưa mở thưởng có thể được vợ hoặc chồng tự nguyện tặng cho mà không cần sự đồng ý của người còn lại.
Và quyền lợi từ tài sản đó sau khi phát sinh (như trúng thưởng) sẽ thuộc về người được tặng cho, theo đúng ý chí của người tặng tại thời điểm giao dịch, đã hứa là phải làm.
Án lệ số 80/2025/AL xem TẠI ĐÂY.