Trao đổi nghiệp vụ

Thừa kế di sản: Nhìn từ những tranh chấp phổ biến tại Tòa án

Luật sư Hoàng Ngọc Quý 15/06/2026 - 11:41

Nhiều người dành cả đời để tạo lập tài sản. Nhưng họ lại chưa từng nghĩ đến việc tài sản đó sẽ được chuyển giao như thế nào sau khi mình qua đời.

Thực tế cho thấy, không ít gia đình vốn hòa thuận đã trở nên mâu thuẫn, kiện tụng kéo dài chỉ vì một căn nhà, một thửa đất hoặc một bản di chúc không rõ ràng.

Theo thống kê từ thực tiễn xét xử, tranh chấp thừa kế luôn là một trong những nhóm án dân sự có tính chất phức tạp nhất. Nguyên nhân không chỉ xuất phát từ giá trị tài sản lớn mà còn bởi yếu tố tình cảm gia đình, quan hệ huyết thống và những nhận thức chưa đầy đủ về pháp luật.

Vậy người dân cần hiểu gì về thừa kế để bảo vệ quyền lợi của mình và hạn chế những tranh chấp đáng tiếc?

Di sản thừa kế nhiều lúc không phải là toàn bộ tài sản của người đã mất

Một trong những hiểu lầm phổ biến nhất là không ít người cho rằng, cứ tài sản đứng tên người chết thì toàn bộ tài sản đó đều là di sản thừa kế.

Thực tế, pháp luật không quy định như vậy. Theo Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”.

Quy định này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc xác định chính xác khối tài sản được đem ra chia thừa kế.

Ví dụ, ông A và bà B là vợ chồng, có căn nhà trị giá 10 tỷ đồng được hình thành trong thời kỳ hôn nhân, nhưng căn nhà đó chỉ đứng tên ông A (không có thỏa thuận đây là tài sản riêng của ông A). Năm 2020, ông A qua đời thì nhiều người trong gia đình cho rằng toàn bộ căn nhà trị giá 10 tỷ đồng phải đưa vào chia thừa kế.

Tuy nhiên, theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, đây là tài sản chung của vợ chồng. Trước khi chia thừa kế phải xác định phần sở hữu của bà B. Thông thường, bà B có quyền đối với một nửa giá trị căn nhà, tương đương 5 tỷ đồng. Chỉ 5 tỷ đồng còn lại mới là di sản của ông A.

Trong thực tiễn hành nghề luật sư, rất nhiều vụ án bị kéo dài nhiều năm, thậm chí hàng chục năm chỉ vì các bên tranh cãi về nguồn gốc tài sản. Có trường hợp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ đứng tên người chồng nhưng đất được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân nên vẫn được xác định là tài sản chung.

Do đó, trước khi nói đến việc chia thừa kế, cần xác định chính xác đâu là di sản và đâu là tài sản thuộc quyền sở hữu của người còn sống.

Có di chúc chưa chắc đã được hưởng toàn bộ tài sản

Nhiều người cho rằng khi đã có di chúc thì nội dung di chúc sẽ được thực hiện tuyệt đối. Đây là nhận thức chưa đầy đủ.

Điều 609 Bộ luật Dân sự năm 2015 ghi nhận quyền của cá nhân được lập di chúc để định đoạt tài sản của mình. Tuy nhiên, quyền này vẫn bị giới hạn bởi các quy định nhằm bảo vệ một số chủ thể đặc biệt.

Theo Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015, những người sau đây vẫn được hưởng di sản dù nội dung di chúc không cho hưởng hoặc chỉ cho hưởng ít hơn mức luật định. Theo đó, nhưng người như: Con chưa thành niên; Cha, mẹ; Vợ hoặc chồng; Con thành niên không có khả năng lao động. Đây được gọi là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc.

Ví dụ, bà C có khối tài sản trị giá 20 tỷ đồng. Trước khi mất, bà lập di chúc để lại toàn bộ tài sản cho người con út vì người này là người trực tiếp chăm sóc bà trong nhiều năm. Tuy nhiên, tại thời điểm bà C qua đời, chồng bà đã 80 tuổi và không còn khả năng lao động.

Trong trường hợp này, mặc dù di chúc không để lại tài sản cho người chồng nhưng ông vẫn được hưởng phần di sản bắt buộc theo quy định tại Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ngoài ra, một vấn đề khác thường phát sinh là hiệu lực của di chúc. Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định di chúc hợp pháp phải được lập trong trạng thái minh mẫn, sáng suốt, không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép.

Thực tiễn xét xử đã ghi nhận nhiều trường hợp di chúc bị tuyên vô hiệu vì người lập di chúc đang điều trị bệnh nặng, già yếu, mất khả năng nhận thức hoặc có căn cứ cho thấy việc lập di chúc không hoàn toàn tự nguyện.

Chính vì vậy, khi lập di chúc, người dân nên thực hiện tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc có người làm chứng phù hợp để hạn chế tranh chấp sau này.

z7913028861302_add72f10a6dd0ec6da1764c7dec87e4c(1).jpg
Luật sư Hoàng Ngọc Quý cho rằng, khi lập di chúc, người dân nên thực hiện tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc có người làm chứng phù hợp.

Chia di sản thừa kế khi không có di chúc

Khi người chết không để lại di chúc hoặc di chúc bị tuyên vô hiệu thì việc chia di sản được thực hiện theo pháp luật. Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định hàng thừa kế thứ nhất gồm: Vợ hoặc chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.

Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Theo đó, những người cùng hàng thừa kế được hưởng phần di sản bằng nhau. Nếu hàng hàng thừa kế thứ nhất không còn thì hàng thừa kế thứ hai mới được hưởng.

Ví dụ, ông D qua đời và để lại khối di sản trị giá 6 tỷ đồng. Ông D không có di chúc. Người thân còn lại gồm vợ và năm người con. Khi đó, sáu người thuộc hàng thừa kế thứ nhất sẽ được hưởng phần di sản ngang nhau. Mỗi người được nhận 1 tỷ đồng.

Trong thực tế, nhiều người cho rằng người con ở cùng cha mẹ, trực tiếp chăm sóc cha mẹ lúc tuổi già phải được hưởng nhiều hơn. Tuy nhiên, nếu không có di chúc hoặc không có thỏa thuận khác giữa các đồng thừa kế thì pháp luật vẫn áp dụng nguyên tắc chia đều.

Một quy định khác mang tính nhân văn sâu sắc là chế định thừa kế thế vị tại Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo quy định này, nếu con của người để lại di sản chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần mà cha hoặc mẹ mình đáng lẽ được hưởng nếu còn sống.

Ví dụ, ông E có hai người con là F và G. F chết trước ông E và để lại một người con là H. Khi ông E qua đời, H sẽ được hưởng phần di sản mà F đáng lẽ được nhận nếu còn sống.

Nhờ quy định này, quyền lợi của thế hệ sau được bảo đảm, tránh việc các cháu bị mất quyền hưởng di sản chỉ vì cha hoặc mẹ đã qua đời trước ông bà. Tuy nhiên thừa kế thế vị lại không áp dụng cho trường hợp có di chúc.

Tranh chấp thừa kế thực chất không chỉ là tranh chấp về tài sản mà còn là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ và tình cảm gia đình. Phần lớn các vụ kiện kéo dài nhiều năm đều bắt nguồn từ việc người để lại tài sản không lập di chúc, lập di chúc không đúng quy định hoặc không làm rõ nguồn gốc tài sản trước khi qua đời.

Hiểu đúng các quy định về di sản thừa kế, di chúc, người thừa kế và hàng thừa kế không chỉ giúp mỗi cá nhân bảo vệ quyền lợi của mình mà còn góp phần gìn giữ sự ổn định, hòa thuận trong gia đình.

Trong bối cảnh giá trị bất động sản ngày càng tăng, việc chủ động lập di chúc hợp pháp và hoàn thiện hồ sơ pháp lý về tài sản nên được xem là một phần trong kế hoạch quản lý tài sản của mỗi gia đình. Đây chính là giải pháp hiệu quả nhất để hạn chế tranh chấp và bảo đảm ý chí của người để lại tài sản được tôn trọng sau khi qua đời.

Luật sư Hoàng Ngọc Quý