Xâm phạm bản quyền là có thật, nhưng đòi bồi thường lại là câu chuyện khác
Bản án số 09/2022/KDTM-PT ngày 21/02/2022 của TAND cấp cao tại TP.HCM (nay là Tòa phúc thẩm TANDTC tại TPHCM), xét xử về tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ đã chấp nhận yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm và xin lỗi công khai. Riêng khoản bồi thường bị bác đơn vì không chứng minh được thiệt hại.
.jpg)
Một doanh nghiệp tại Việt Nam bị phát hiện cài đặt trái phép phần mềm thiết kế công nghiệp CREO Element Pro 5.0 của một tập đoàn công nghệ Hoa Kỳ. Chủ sở hữu phần mềm khởi kiện, yêu cầu bồi thường hơn 12,6 tỷ đồng, xin lỗi công khai và tiêu hủy toàn bộ máy tính có cài đặt phần mềm vi phạm.
Tuy nhiên, sau hai cấp xét xử, Tòa án chỉ chấp nhận yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm và xin lỗi công khai, còn khoản bồi thường hàng chục tỷ đồng bị bác bỏ hoàn toàn.
Bản án là một ví dụ điển hình cho thấy trong các tranh chấp sở hữu trí tuệ, việc chứng minh có hành vi xâm phạm là một chuyện, nhưng chứng minh thiệt hại để được bồi thường lại là câu chuyện hoàn toàn khác.
Theo hồ sơ vụ án, cơ quan thanh tra phát hiện doanh nghiệp đã sao chép và sử dụng trái phép phần mềm CREO Element Pro 5.0 trên một máy tính. Đây là chương trình phần mềm thuộc quyền tác giả của nguyên đơn và được pháp luật Việt Nam bảo hộ. Việc sử dụng không có giấy phép đã bị xác định là hành vi xâm phạm quyền tác giả.
Tuy nhiên, điểm đáng chú ý nằm ở yêu cầu bồi thường. Chủ sở hữu phần mềm cho rằng giá bán thương mại của phần mềm lên tới 543.685 USD, tương đương hơn 12,6 tỷ đồng và yêu cầu doanh nghiệp vi phạm phải thanh toán toàn bộ số tiền này. Lập luận được đưa ra là nếu bị đơn muốn sử dụng hợp pháp thì phải trả chi phí chuyển giao quyền sử dụng tương ứng với giá trị phần mềm trên thị trường.
Nghe qua, yêu cầu này có vẻ hợp lý. Người sử dụng không trả tiền bản quyền thì phải trả số tiền đáng lẽ phải trả. Nhưng pháp luật về bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ không đơn giản như vậy.
Hội đồng xét xử cho rằng, chủ sở hữu quyền tác giả phải chứng minh được thiệt hại thực tế phát sinh từ hành vi xâm phạm. Thiệt hại đó có thể là khoản doanh thu bị mất, lợi nhuận bị giảm sút, cơ hội kinh doanh bị ảnh hưởng hoặc khoản lợi nhuận mà bên vi phạm thu được từ hành vi sử dụng trái phép.
Trong vụ án này, nguyên đơn không chứng minh được doanh nghiệp đã sử dụng phần mềm để tạo ra doanh thu hay lợi nhuận; cũng không chứng minh được bản thân mình bị giảm sút thu nhập hoặc mất cơ hội kinh doanh vì hành vi vi phạm đó.
Một tình tiết quan trọng khác là doanh nghiệp chỉ bị phát hiện sử dụng một phiên bản không đầy đủ của phần mềm trên một máy tính. Trong khi đó, mức giá hơn 543.000 USD mà nguyên đơn yêu cầu lại là giá của phiên bản đầy đủ với toàn bộ module chức năng. Chính nguyên đơn cũng không xác định được giá trị thực tế của phiên bản mà doanh nghiệp đã sử dụng trái phép là bao nhiêu.
Nói cách khác, Tòa án thừa nhận có hành vi vi phạm nhưng không tìm thấy căn cứ để xác định khoản thiệt hại tương ứng với con số hơn 12,6 tỷ đồng mà nguyên đơn yêu cầu.
Không chỉ mất khoản bồi thường khổng lồ, nguyên đơn còn không được chấp nhận yêu cầu tiêu hủy toàn bộ máy tính có cài đặt phần mềm vi phạm. Hội đồng xét xử cho rằng, biện pháp tiêu hủy chỉ áp dụng đối với phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất hoặc kinh doanh hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Trong khi đó, vụ việc chỉ liên quan đến hành vi sao chép để sử dụng trên một máy tính và doanh nghiệp đã tự nguyện gỡ bỏ phần mềm sau khi bị thanh tra phát hiện.
Dưới góc nhìn pháp lý, đây là bản án mang nhiều ý nghĩa đối với cả doanh nghiệp sử dụng phần mềm và chủ sở hữu quyền tác giả.
Đối với doanh nghiệp, bản án không phải là “tấm vé miễn trách nhiệm” cho việc sử dụng phần mềm lậu. Ngược lại, Tòa án vẫn xác định hành vi xâm phạm, buộc chấm dứt vi phạm và công khai xin lỗi trên báo chí. Nếu chủ sở hữu chứng minh được thiệt hại hoặc chứng minh được lợi nhuận thu được từ việc sử dụng phần mềm trái phép, khoản bồi thường có thể rất lớn.
Đối với các doanh nghiệp công nghệ, nhà sản xuất phần mềm hoặc chủ sở hữu tài sản trí tuệ, bài học rút ra là phải chuẩn bị đầy đủ hệ thống chứng cứ chứng minh thiệt hại. Không phải cứ phát hiện có người sử dụng trái phép phần mềm là mặc nhiên được Tòa án chấp nhận mức bồi thường tương ứng với giá niêm yết sản phẩm.
Trong kỷ nguyên số, phần mềm là tài sản. Nhưng để biến quyền sở hữu trí tuệ thành khoản bồi thường bằng tiền trước tòa, chủ sở hữu không chỉ cần chứng minh có hành vi xâm phạm mà còn phải chứng minh được thiệt hại thực tế. Và đây chính là ranh giới quyết định thắng hay thua trong các vụ kiện bản quyền phần mềm hiện nay.
Bản án này vì thế không chỉ là lời cảnh báo đối với doanh nghiệp sử dụng phần mềm không bản quyền, mà còn là lời nhắc nhở rằng trong tố tụng dân sự, chứng cứ về thiệt hại đôi khi còn quan trọng hơn chính hành vi vi phạm.
Bản án số 09/2022/KDTM-PT ngày 21/02/2022 của TAND cấp cao tại TP.HCM xem TẠI ĐÂY.