Đời sống

Một khoảng tối của gia đình tái cấu trúc và hệ thống bảo vệ trẻ em

Lương Gia Cát Tường 02/06/2026 - 07:09

Chỉ trong vài ngày đầu tháng 5, liên tiếp nhiều vụ bạo hành trẻ em xảy ra với mức độ đặc biệt nghiêm trọng; bé gái 4 tuổi ở Hà Nội tử vong, bé trai 2 tuổi và 14 tuổi ở TP.HCM bị chấn thương nặng.

Có một điểm chung, thủ phạm đều là “chồng hờ” của mẹ nạn nhân. Một khoảng tối cần báo động trong tình trạng tái cấu trúc gia đình và hệ thống bảo vệ trẻ em đang yếu và thiếu.

z7877037261992_630a8f842e36eee1eab8c7f2f28594a2.jpg
Bàn Thị Tâm và Nguyễn Minh Hiệp, hai bị can trong vụ bạo hành bé gái 4 tuổi tử vong ở Hà Nội.

Clip lan truyền trên mạng cảnh một bé trai bị người tình của mẹ đánh tới tới tấp như giọt nước tràn ly khiến cả xã hội phẫn nộ về sự tàn nhẫn của hành vi bạo hành trẻ em xảy ra gần như cùng thời điểm trong mấy ngày qua. Một điểm chung đáng sợ nổi rõ trong các vụ việc này chính là người trực tiếp bạo hành đều là “chồng hờ”, “cha dượng”, hay người đàn ông sống chung như vợ chồng với mẹ của đứa trẻ.

Đây không còn là những vụ án cá biệt. Nó phản ánh một khoảng tối rất đáng báo động trong cấu trúc gia đình hiện đại và trong hệ thống bảo vệ trẻ em của xã hội.

Gia đình tái cấu trúc biến trẻ em thành nạn nhân yếu thế nhất

Tuổi thọ hôn nhân ngày càng ngắn, tình trạng ly hôn “thịnh hành”, xu hướng làm mẹ đơn thân thành “mốt”… đã dẫn đến các mối tình chồng hờ vợ tạm là một thực tế xã hội không thể phủ nhận. Nhưng thực tế đó cũng xác nhận, trong những gia đình “tái cấu trúc” ấy, khi người lớn bước vào một mối quan hệ mới, trẻ em là đối tượng phải trả giá nhiều nhất, chúng thường bị kéo theo mà không có quyền lựa chọn.

Các em bị sống cùng một người đàn ông không cùng huyết thống, sống như vợ chồng với người mẹ nhưng trách nhiệm với trẻ em lại rất mơ hồ, không có ràng buộc pháp lý nhưng lại có toàn quyền tiếp xúc, dạy dỗ, kiểm soát và trừng phạt chúng.

Khi đứa trẻ bị xem là một gánh nặng, vật cản, nguồn cơn gây phiền phức trong cuộc sống chung của mẹ và người tình, “cha dượng” hoặc “người tình của mẹ”, các em sẽ dễ dàng trở thành nơi trút giận của kẻ “khác máu tanh lòng”.

Đau lòng nhất là trong nhiều vụ việc, có những người mẹ không hẳn vì hết tình mẫu tử mà do bị lệ thuộc về kinh tế, lệ thuộc cảm xúc, sợ mất người đàn ông đang chung sống, tâm lý cam chịu hoặc lệch chuẩn trong mối quan hệ độc hại… đã xem việc giữ người đàn ông bên cạnh quan trọng hơn sự an toàn của con mình, thấy con bị đánh, bị hành hạ nhưng chọn cách im lặng, thậm chí cùng tham gia bạo hành.

Không biết nằm trong trường hợp nào nhưng trong cả ba vụ việc trên, người mẹ đáng lẽ phải là “lá chắn cuối cùng” của đứa trẻ lại trở thành người tiếp tay với người tình bạo hành con mình.

Nhiều điểm yếu và khoảng trống

Trước hết đó là sự thất bại của mạng lưới bảo vệ trẻ em ở cấp cộng đồng. Xã hội vẫn có xu hướng xem “chuyện dạy con là chuyện riêng của gia đình người ta”. Tâm lý “không muốn xen vào chuyện nhà người khác” làm cho ranh giới giữa “dạy dỗ” và “bạo hành” bị nhập nhằng.

Trong khi bạo lực trẻ em trong gia đình thường leo thang từng bước từ quát mắng, trừng phạt nhẹ mới dần chuyển thành hệ thống. Thời gian tiến triển đó đủ dài để trong nhà người mẹ biết, ở khu dân cư mọi người biết, ở nhà trường có thể nhận ra dấu hiệu bất thường, nhưng đa số chọn im lặng, không ai can thiệp đủ sớm, cho đến khi đứa trẻ nhập viện hoặc tử vong thì gia đình và xã hội mới bàng hoàng.

Trong khi ở nhiều nước, chỉ cần một ai đó nghi ngờ trẻ có dấu hiệu bị bạo hành, cơ quan bảo vệ trẻ em đã có thể vào cuộc ngay thì ở ta, thường phải chờ đến khi nhập viện, chấn thương nặng hoặc tử vong. Bài học này đã được rút ra từ vụ bé V.A vào năm 2021. Cho thấy môi trường xã hội ngày càng nhiều áp lực nhưng lại thiếu hệ thống kiểm soát cảm xúc và hỗ trợ tâm lý. Và trên hết là chúng ta đánh giá chưa đúng mức về thực trạng bạo lực gia đình đối với trẻ em.

Mặt khác, trẻ em Việt Nam hiện chưa thực sự được nhìn nhận như một “chủ thể có quyền” độc lập (mặc dù trên lý thuyết đã có rất nhiều văn bản quy định). Hệ thống bảo vệ trẻ em ở cơ sở còn khoảng trống lớn trong khâu giám sát. Đồng thời khi có vụ việc xảy ra, mặc dù các cơ quan chức năng đã nhanh chóng vào cuộc, nhưng thường chỉ là "xử lý hậu quả" chứ chưa chú trọng "phòng ngừa", tại cơ sở.

z7877037457716_94c8f37590baf849d45cda4282ef134e.jpg
Trẻ em là tương lai của đất nước.

Cần được giám sát xã hội nhiều hơn

Khó có một giải pháp đơn lẻ nào có thể xử lý tận gốc vấn đề này. Nhưng để vừa “đánh vào hiện tượng” vừa “đụng tới bản chất” vấn đề một cách quyết liệt nhất, quan trọng là cần chuyển hành vi “xử lý sau” sang “can thiệp trước”. Thay đổi tư duy về bảo vệ quyền an toàn của trẻ ưu tiên cao hơn bảo vệ quyền riêng tư gia đình.

Xem trẻ em là “chủ thể cần được bảo vệ”, không phải tài sản của cha mẹ, trẻ em có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, bảo vệ trẻ là trách nhiệm của toàn xã hội, coi việc đánh trẻ là hành vi hèn hạ, đáng xấu hổ chứ không phải “dạy dỗ”… Có như vậy mới mong mọi thứ thay đổi thực sự.

Cuối cùng có một điều rất nhạy cảm nhưng buộc phải nói thẳng. Khi sống chung với “cha/mẹ không cùng huyết thống” trẻ cần được giám sát xã hội nhiều hơn, bởi vì trên thực tế ngoài nguy cơ bạo hành còn có nguy cơ xảy ra xâm hại tình dục.

Tất nhiên, không có nghĩa mọi cha dượng đều xấu. Rất nhiều người vẫn yêu thương con riêng của vợ như con ruột. Nhưng rõ ràng, thực tế đang cho thấy đây là nhóm quan hệ tiềm ẩn rủi ro rất cao đối với trẻ em. Nhiều nghiên cứu xã hội học trên thế giới từng chỉ ra, nguy cơ trẻ em bị bạo hành trong các gia đình có “người chăm sóc không cùng huyết thống” cao hơn đáng kể so với trẻ được ở cùng với người ruột thịt.

Lương Gia Cát Tường